“Phải mất bao lâu để có thể thu hồi được khoản nợ?”, đây là câu hỏi mà rất nhiều cá nhân hay tổ chức thắc mắc khi gặp khó khăn bởi bên nợ không trả tiền. Không dễ để đưa ra một đáp án chính xác về thời gian đảm bảo có thể thu hồi trọn vẹn một khoản nợ. Tuy nhiên, trong bài viết sau TNTP sẽ đưa ra thời gian trung bình để thu hồi công nợ dựa trên kinh nghiệm trong hoạt động thu hồi nợ của chúng tôi.

1. Những khoản nợ có thời gian thu hồi dưới 1 năm

Điều kiện để một khoản nợ có khả năng thu hồi trong một năm thì đó phải là một khoản nợ mà bên nợ có khả năng thanh toán và có thiện chí thanh toán. Đây là điều vô cùng quan trọng, vì quá trình thu hồi nợ chỉ có thể thực hiện một cách nhanh chóng khi bên nợ sẵn sàng thanh toán khoản nợ và có đủ tài sản để thực hiện việc thanh toán này.

Khả năng thanh toán của bên nợ phụ thuộc vào tình hình tài chính của họ, trong trường hợp bên nợ tuy có khả năng tài chính tốt nhưng lại có quá nhiều khoản nợ cần thanh toán cần thanh toán một lúc thì thông thường bên chủ nợ có tác động mạnh hơn sẽ được bên nợ “ưu tiên” thanh toán trước.

Xem thêm  Xử lý kỷ luật sa thải đối với người lao động có hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động

Tuy nhiên, để đảm bảo có thể thu hồi khoản nợ trong thời gian ngắn thì ngay khi xác định được bên nợ còn tài sản, hoặc hiện đang có khả năng thanh toán thì các chủ nợ cần tiến hành ngay các biện pháp thu hồi nợ hợp pháp như gọi điện thoại, gửi công văn, hoặc trực tiếp gặp gỡ để trao đổi và yêu cầu bên nợ thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ. Nếu chủ nợ không tác động đến bên nợ tại các thời điểm “vàng” này thì thời gian thu hồi nợ có thể bị kéo dài hoặc bên nợ không còn khả năng thanh toán, dẫn đến khoản nợ trở nên khó thu hồi hơn.

2. Những khoản nợ có thời gian thu hồi từ 3 đến 5 năm

Đây là những khoản nợ khó thu hồi khi bên nợ gần như không có khả năng thanh toán ngay lập tức toàn bộ khoản nợ. Lý do thường do khả năng tài chính của bên nợ hiện tại đang không còn khả năng chi trả cho chủ nợ, hoặc bên nợ có quá nhiều khoản nợ và không còn đủ tiền để trả cho chủ nợ. Ngoài ra có thể do khoản nợ của chủ nợ đã phát sinh lãi nhưng bên nợ chưa thanh toán đầy đủ nợ gốc dẫn đến việc khoản lãi tiếp tục kéo dài.

Trong các trường hợp này, giải pháp cho trường hợp này là khởi kiện đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết như Tòa án hay Trung tâm trọng tài để có thể sử dụng quyền lực của nhà nước để buộc bên nợ phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Quá trình từ khi khởi kiện đến giai đoạn thi hành án có thể kéo dài từ 3 đến 5 năm tùy thuộc vào giá trị khoản nợ, nguồn tài chính hoặc tài sản còn lại của bên nợ.

Xem thêm  Một số vấn đề về thỏa thuận tài sản tiền hôn nhân (phần 2)

3. Bên nợ mất khả năng thanh toán khoản nợ

Đây là trường hợp xấu nhất mà các chủ nợ không bao giờ mong muốn, khi bên nợ mất khả năng thanh toán khoản nợ tức là khoản nợ sẽ không bao giờ có thể được thanh toán đầy đủ, hoặc không được thanh toán, dẫn đến việc chủ nợ sẽ mãi mất đi khoản tiền vay của mình. Thông thường trường hợp này xảy ra khi tài chính của bên nợ không còn để thanh toán, hoặc bên nợ đã phá sản, giải thể, tạm ngừng hoạt động và không phát sinh thêm bất cứ nguồn thu hay tài sản để có thể thanh toán khoản nợ.

Tuy nhiên, việc bên nợ mất khả năng thanh toán thường không xảy ra ngay trong thời gian đầu khi cho vay, việc bên nợ mất khả năng thanh toán thường chỉ xảy ra khi chủ nợ không thực hiện các biện pháp thu hồi nợ, không liên lạc với bên nợ trong thời gian dài. Do đó nếu chủ nợ thường xuyên có biện pháp để theo dõi, nắm được khả năng tài chính của bên nợ, cũng như thường xuyên nhắc nhở bên nợ thực hiện thanh toán khoản nợ thì hoàn toàn có thể tiến hành các biện pháp cần thiết để phòng tránh trường hợp tình thế quá muộn khi bên nợ mất khả năng thanh toán, không còn tài sản để trả nợ.

Trong trường hợp chủ nợ có đủ căn cứ để xác định bên nợ vẫn còn có thể thanh toán nhưng cố tình không thực hiện việc thanh toán, hoặc cố ý trốn tránh để không thanh toán khoản nợ thì chủ nợ hoàn toàn có quyền làm Đơn tố giác tội phạm về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đến Cơ quan cảnh sát điều tra có thẩm quyền. Khi đó, Cơ quan cảnh sát điều tra sẽ tiền hành các biện pháp nghiệp vụ để xác định hành vi vi phạm pháp luật của bên nợ, trường hợp cơ quan cảnh sát điều tra xác định được bên nợ có thực hiện hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm đến quyền lợi của chủ nợ. Bên nợ sẽ bị tiến hành khởi tố và xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Khi đó, bên nợ sẽ buộc phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ cho chủ nợ kèm theo việc chịu các chế tài xử lý theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Xem thêm  “Lỡ” vay tiền qua “app” – Bên vay phải làm thế nào?

Trên đây là những chia sẻ của TNTP về thời gian trung bình để thu hồi công nợ. Mong rằng bài viết này có ích với các độc giả.

Trân trọng.