Trình tự, thủ tục thi hành Án dân sự đối với bên nợ theo Luật thi hành án dân sự năm 2025
Trong hoạt động thu hồi nợ, việc Tòa án/ Trọng tài ban hành quyết định, bản án hay phán quyết trọng tài có hiệu lực pháp luật (sau đây gọi tắt là “bản án, quyết định”) mới chỉ là sự ghi nhận về mặt pháp lý đối với quyền yêu cầu thanh toán của chủ nợ. Trong nhiều trường hợp, nếu bên nợ không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thì việc thu hồi nợ chỉ có thể được thực hiện thông qua thủ tục thi hành án dân sự. Trong bài viết này, TNTP sẽ gửi đến Quý độc giả những phân tích chi tiết về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với bên nợ theo quy định của pháp luật hiện hành.
1. Kiểm tra điều kiện yêu cầu thi hành án
Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2025 (“Luật THADS năm 2025”), để yêu cầu thi hành án, người được thi hành án phải đồng thời đáp ứng các điều kiện sau:
1.1. Phải có bản án, quyết định thuộc diện được thi hành án
Điều kiện tiên quyết để yêu cầu thi hành án là phải có bản án, quyết định thuộc trường hợp được thi hành theo Điều 2 Luật THADS năm 2025. Trong hoạt động thu hồi nợ, căn cứ phổ biến nhất là quyết định, bản án của Tòa án hoặc phán quyết của trọng tài đã có hiệu lực pháp luật.
Nói cách khác, khi tranh chấp mới chỉ phát sinh hoặc đang trong quá trình giải quyết tại Tòa án hoặc trọng tài thì chủ nợ chưa thể yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành. Chỉ sau khi quyền, nghĩa vụ của các bên được xác định bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì thủ tục thi hành án mới có thể được tiến hành.
1.2. Yêu cầu thi hành án phải được thực hiện trong thời hiệu luật định
Khoản 2 Điều 34 Luật THADS năm 2025 quy định thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn. Trường hợp người được thi hành án không thực hiện quyền yêu cầu trong thời hiệu luật định thì cơ quan thi hành án dân sự có thể từ chối tiếp nhận yêu cầu theo quy định tại Điểm d Khoản 4 Điều 34 Luật THADS năm 2025.
Tuy nhiên, trong trường hợp người yêu cầu chứng minh được việc không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn là do tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng thì khoảng thời gian này không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án.
1.3. Người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án
Trên thực tế thủ tục thi hành án dân sự thường chỉ được đặt ra khi người phải thi hành án không tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ theo bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Khi đó, người được thi hành án có thể yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành theo quy định của pháp luật.
2. Nộp yêu cầu thi hành án
2.1. Về nội dung yêu cầu thi hành án
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 Nghị định số 152/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự (“Nghị định 152/2026/NĐ-CP”), yêu cầu thi hành án phải có các nội dung chủ yếu sau:
- Thông tin của người yêu cầu, người được thi hành án, người phải thi hành án, bao gồm: họ, tên; địa chỉ; số định danh cá nhân, số định danh cơ quan, tổ chức; mã số doanh nghiệp, hợp tác xã, số điện thoại (nếu có);
- Ngày, tháng, năm yêu cầu thi hành án và tên cơ quan thi hành án dân sự được yêu cầu;
- Số, ngày, tháng, năm, cơ quan ra bản án, quyết định và các khoản yêu cầu thi hành;
- Thông tin về tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án (nếu có);
- Trường hợp người yêu cầu là người được thi hành án thì ghi rõ số tài khoản ngân hàng để nhận tiền (nếu có);
- Chữ ký hoặc điểm chỉ của người yêu cầu; đối với pháp nhân thì phải có chữ ký của người đại diện hợp pháp và đóng dấu của pháp nhân; và
- Bản án, quyết định và tài liệu liên quan (nếu có).
2.2. Về hình thức yêu cầu thi hành án
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 34 Luật THADS năm 2025 và Điều 9 Nghị định 152/2026/NĐ-CP, người được thi hành án có thể yêu cầu thi hành án bằng một trong các hình thức sau:
- Gửi yêu cầu trên môi trường số qua Cổng Dịch vụ công quốc gia, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung của Bộ Tư pháp, ứng dụng VNeID hoặc phương tiện điện tử khác theo quy định của pháp luật;
- Trực tiếp nộp đơn yêu cầu hoặc trình bày bằng lời nói. Trường hợp trình bày bằng lời nói thì cơ quan thi hành án dân sự phải lập biên bản có các nội dung quy định tại khoản 2 Điều này, có chữ ký của người lập biên bản, chữ ký hoặc điểm chỉ của người yêu cầu; biên bản này có giá trị như đơn yêu cầu;
- Gửi đơn yêu cầu qua dịch vụ bưu chính;
- Hình thức khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi tiếp nhận yêu cầu hợp lệ kèm theo bản án, quyết định và các tài liệu liên quan, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm xem xét và ra quyết định thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc, trừ trường hợp có căn cứ từ chối theo quy định của pháp luật. Quyết định thi hành án sau đó được gửi cho đương sự trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ban hành văn bản để làm cơ sở triển khai các bước tiếp theo của quá trình thi hành án.
3. Xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 36 Luật THADS năm 2025, thời hạn để người phải thi hành án tự nguyện thi hành án là 10 ngày kể từ ngày được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án. Hết thời hạn này mà người phải thi hành án không tự nguyện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ, Chấp hành viên sẽ tiến hành xác minh điều kiện thi hành án để làm căn cứ tổ chức thi hành theo quy định.
3.1. Xác minh điều kiện thi hành án
Theo khoản 1 Điều 37 Luật THADS năm 2025, trong thời hạn 09 ngày kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án, Chấp hành viên có trách nhiệm xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án. Nội dung xác minh bao gồm việc làm rõ tài sản, quyền tài sản, nguồn thu nhập, nơi cư trú, nơi làm việc và các thông tin khác có liên quan đến khả năng thực hiện nghĩa vụ của người phải thi hành án.
Bên cạnh hoạt động xác minh của Chấp hành viên, người được thi hành án cũng có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp xác minh điều kiện thi hành án và cung cấp kết quả cho cơ quan thi hành án dân sự. Trên thực tế, việc chủ động cung cấp thông tin về tài sản hoặc nguồn thu nhập của người phải thi hành án thường góp phần rút ngắn thời gian thu hồi nợ và tạo cơ sở để Chấp hành viên áp dụng kịp thời các biện pháp bảo đảm hoặc cưỡng chế.
3.2. Trường hợp chưa có điều kiện thi hành án
Nếu kết quả xác minh cho thấy người phải thi hành án chưa có tài sản hoặc thu nhập để thực hiện nghĩa vụ, hoặc thuộc các trường hợp khác theo Điều 38 Luật THADS năm 2025, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự sẽ ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án. Cần lưu ý rằng, quyết định này không làm chấm dứt nghĩa vụ của người phải thi hành án mà chỉ phản ánh việc cơ quan thi hành án dân sự chưa có căn cứ để tiếp tục tổ chức thi hành tại thời điểm xác minh. Chấp hành viên vẫn có trách nhiệm định kỳ xác minh lại điều kiện thi hành án ít nhất 06 tháng một lần hoặc xác minh khi có thông tin mới về tài sản, thu nhập của người phải thi hành án. Khi xác định người phải thi hành án đã có điều kiện thực hiện nghĩa vụ, cơ quan thi hành án dân sự sẽ tiếp tục tổ chức thi hành theo quy định của pháp luật.
4. Áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án
Trường hợp có căn cứ xác định người phải thi hành án có tài sản nhưng có dấu hiệu tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án, việc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án là cần thiết nhằm mục đích bảo toàn tài sản và nâng cao khả năng thực hiện nghĩa vụ của người phải thi hành án.
Theo quy định tại Điều 66 Luật THADS năm 2025, Chấp hành viên có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng ngay các biện pháp: (i) Phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ; (ii) Tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản; (iii) Tạm giữ tài sản, giấy tờ. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng ngay biện pháp tạm hoãn xuất cảnh. Khi áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, Chấp hành viên và Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự không phải thông báo trước cho đương sự.
5. Áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án
Trường hợp hết thời hạn 10 ngày tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án có đủ điều kiện nhưng không tự nguyện thi hành án, hoặc sau khi ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm và có đủ căn cứ áp dụng biện pháp cưỡng chế, Chấp hành viên có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án. Theo quy định tại Điều 71 Luật THADS năm 2025, người phải thi hành án có thể bị áp dụng một hoặc một số biện pháp cưỡng chế thi hành án sau:
- Khấu trừ tiền trong tài khoản, thư tiền, xử lý giấy tờ có giá;
- Trừ vào thu nhập;
- Khai thác tài sản;
- Kê biên, xử lý tài sản, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ;
- Giao tài sản, vật, giấy tờ;
- Buộc thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.
6. Thanh toán tiền thi hành án
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thu được tiền thi hành án hoặc kể từ ngày giao tài sản cho người mua được tài sản, người nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án, Chấp hành viên thực hiện việc thanh toán tiền thi hành án cho người được thi hành án. Việc thanh toán tiền được thực hiện bằng hình thức chuyển khoản, trường hợp không thể chuyển khoản thì thanh toán trực tiếp hoặc hình thức khác theo quy định của pháp luật.
Trong một số trường hợp, thời hạn thanh toán tiền thi hành án có thể được kéo dài theo quy định của pháp luật, bao gồm:
- Việc thi hành án có số người được thi hành án nhiều, số tiền thu được ít và cơ quan thi hành án dân sự đang tiếp tục xử lý tài sản khác để thi hành án;
- Có quyết định của cơ quan có thẩm quyền yêu cầu chưa chi trả tiền thi hành án theo quy định của pháp luật;
- Có khiếu nại, tố cáo, kháng nghị, kiến nghị liên quan đến việc xử lý số tiền, tài sản đó;
- Xảy ra tình trạng khẩn cấp, sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan dẫn đến không thể thanh toán đúng thời hạn.
Đối với các trường hợp nêu trên, Chấp hành viên phải thực hiện việc thanh toán trong thời hạn không quá 10 ngày kể từ ngày căn cứ kéo dài thời hạn thanh toán tiền không còn hoặc kể từ ngày nhận được quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
7. Một số câu hỏi thường gặp
7.1. Trường hợp chưa có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì có được yêu cầu thi hành án hay không?
Một trong những điều kiện để yêu cầu thi hành án là phải có bản án, quyết định thuộc diện được thi hành theo quy định pháp luật. Do đó, nếu tranh chấp vẫn đang trong quá trình giải quyết, hoặc bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật thì cơ quan thi hành án dân sự chưa có căn cứ để tổ chức thi hành.
7.2. Người phải thi hành án không thi hành án có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
- Trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành nhưng cố ý không chấp hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội không chấp hành án theo quy định tại Điều 380 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án theo quy định của pháp luật thì không phải là căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự.
7.3. Người được thi hành án có thể đề nghị phong tỏa tài khoản của người phải thi hành án không?
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 66 Luật THADS năm 2025, đương sự có quyền yêu cầu bằng văn bản để Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ của người phải thi hành án. Tuy nhiên, người yêu cầu phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình; trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm không đúng mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Trên đây là bài viết “Trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với Bên nợ theo Luật Thi hành án dân sự năm 2025” TNTP gửi tới Quý độc giả. Trường hợp có vấn đề cần làm rõ, vui lòng liên hệ với TNTP để được giải đáp.
Trân trọng,