Pháp nhân có phải chịu trách nhiệm hình sự không? Nếu có, pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn các điều kiện nào? Đây là các câu hỏi mà các doanh nghiệp quan tâm khi tiến hành hoạt động kinh doanh. Để trả lời cho các câu hỏi này, trong bài viết này, chúng tôi sẽ phân tích về căn cứ và phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân.

1. Có phải tất cả pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự không?

Theo quy định tại Điều 74 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (“BLHS”), không phải mọi pháp nhân đều phải chịu trách nhiệm hình sự, chỉ duy nhất pháp nhân thương mại (“PNTM”) phải chịu trách nhiệm hình sự.

Pháp nhân bao gồm hai loại là PNTM và pháp nhân phi thương mại. PNTM là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. PNTM bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác.

2. Pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn các điều kiện nào? 

PNTM chỉ chịu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn các điều kiện:

Thứ nhất, hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh PNTM. Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh PNTM là hành vi của một người hoặc một số người là người lao động hoặc người sử dụng lao động của PNTM hoặc chủ sở hữu của PNTM,… Những người này có thể là người giữ vị trí, chức vụ nhất định trong PNTM, là người đại diện theo pháp luật hoặc được PNTM ủy quyền thực hiện nhiệm vụ nhân danh PNTM.

Xem thêm  Thu hồi nợ không thành công – nguyên nhân vì đâu?

Thứ hai, hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của PNTM. Đối với căn cứ này, cần xác định rõ giữa lợi ích pháp nhân và lợi ích cá nhân của chủ thể thực hiện hành vi do pháp nhân giao hoặc ủy quyền. Bởi vì trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, nếu xác định chủ thể phạm tội lợi dụng PNTM để thực hiện thêm hành vi vì lợi ích cá nhân thì pháp nhân không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi này, những phần vượt quá sẽ thuộc trách nhiệm của chủ thể thực hiện.

Thứ ba, hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của PNTM. Những chủ thể có thẩm quyền chỉ đạo, điều hành và chấp thuận trong pháp nhân có thể là người đại diện theo pháp luật, chủ sở hữu, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị.

Thứ tư, chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 27 BLHS. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do BLHS quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Pháp luật quy định 04 mốc thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự tương ứng với 04 loại tội phạm như sau:

  • 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;
  • 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;
  • 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;
  • 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân

Căn cứ Khoản 2 Điều 2 BLHS: “Chỉ PNTM nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Theo quy định tại Điều 76 BLHS, PNTM chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về 33 tội phạm thuộc 3 nhóm sau đây:

+ Nhóm các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế: Điều 188 (Tội buôn lậu); Điều 189 (Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới); Điều 190 (Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm); Điều 191 (Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm); Điều 192 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả); Điều 193 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm); Điều 194 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh); Điều 195 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi); Điều 196 (Tội đầu cơ); Điều 200 (Tội trốn thuế); Điều 203 (Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước); Điều 209 (Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán); Điều 210 (Tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán); Điều 211 (Tội thao túng thị trường chứng khoán); Điều 213 (Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm); Điều 216 (Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động); Điều 217 (Tội vi phạm quy định về cạnh tranh; Tội vi phạm quy định về kinh doanh theo phương thức đa cấp); Điều 225 (Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan); Điều 226 (Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp); Điều 227 (Tội vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên); Điều 232 (Tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản); Điều 234 (Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã).

Xem thêm  Lối đi nào cho cổ phiếu hag của hoàng anh gia lai?

+ Nhóm các tội phạm về môi trường: Điều 235 (Tội gây ô nhiễm môi trường); Điều 237 (Tội vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường); Điều 238 (Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông); Điều 239 (Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam); Điều 242 (Tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản); Điều 243 (Tội huỷ hoại rừng); Điều 244 (Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm); Điều 245 (Tội vi phạm quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên); Điều 246 (Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại).

+ Nhóm tội phạm xâm phạm trật tự công cộng: Điều 300 (Tội tài trợ khủng bố); Điều 324 (Tội rửa tiền).

4. Chế tài đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Theo Điều 33 BLHS, PNTN khi phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.

  • Hình phạt chính bao gồm: a) Phạt tiền; b) Đình chỉ hoạt động có thời hạn; c) Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
  • Hình phạt bổ sung bao gồm: a) Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định; b) Cấm huy động vốn; c) Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính.
Xem thêm  Người dân đi ra ngoài trong khi cách ly xã hội để phòng, chống dịch COVID-19 sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính như thế nào?

Theo Điều 46, Điều 82 BLHS, PNTM có thể bị áp dụng một hoặc các biện pháp tư pháp sau: a) Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; b) Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi; c) Khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do hành vi phạm tội của PNTM gây ra; d) Thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra.

Trên đây là bài viết “Pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự không?”. Chúng tôi hi vọng pháp nhân thương mại nói chung, doanh nghiệp nói riêng sẽ thu được những giá trị nhất định khi theo dõi bài viết.