Skip to main content

Tag: giải quyết tranh chấp

Những tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài bắt buộc phải giải quyết tại Tòa án Việt Nam

Trong bối cảnh thương mại quốc tế phát triển mạnh, các tranh chấp kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài ngày càng gia tăng và trở nên phức tạp. Dù pháp luật Việt Nam tôn trọng quyền tự do thỏa thuận của các bên trong việc lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp, nhưng đối với một số trường hợp nhất định, chỉ Tòa án Việt Nam mới có thẩm quyền giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ những tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài bắt buộc phải giải quyết tại Tòa án Việt Nam, giúp doanh nghiệp và cá nhân tránh rủi ro pháp lý khi tham gia giao dịch xuyên biên giới.

1. Khái quát về Thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam

Theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, các tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt Nam thì phải do Tòa án Việt Nam xem xét, giải quyết để được công nhận và có giá trị thi hành tại Việt Nam. Trong trường hợp một tranh chấp thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam nhưng vẫn được giải quyết bởi Tòa án nước ngoài, thì theo Khoản 4 Điều 439 và Khoản 1 Điều 440 BLTTDS 2015, bản án, quyết định do Tòa án nước ngoài ban hành sẽ không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.

Thẩm quyền riêng biệt cần được phân biệt với thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam. Đối với các tranh chấp thuộc thẩm quyền chung, pháp luật cho phép các bên được tự do thỏa thuận lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp ở nước ngoài. Khi tranh chấp phát sinh, các bên có quyền khởi kiện tại cơ quan đã được thỏa thuận, với điều kiện việc lựa chọn và giải quyết tranh chấp đó phù hợp với quy định pháp luật của quốc gia nơi cơ quan giải quyết tranh chấp được xác lập.

2. Các tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc Thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam

Điều 470 BLTTDS 2015 xác định thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam dựa trên các yếu tố về lãnh thổ, quốc tịch của đương sự cũng như sự thỏa thuận của các bên trong tranh chấp. Cụ thể, đối với các tranh chấp kinh doanh thương mại, theo Điểm a và Điểm c Khoản 1 Điều 470 BLTTDS 2015, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền riêng biệt khi (i) – tranh chấp có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam; và (ii) – khi các bên trong tranh chấp đồng ý lựa chọn Tòa án Việt Nam làm cơ quan giải quyết tranh chấp.

Thứ nhất, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền riêng biệt đối với tranh chấp kinh doanh thương mại liên quan đến quyền đối với bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam. Theo đó, mọi tranh chấp phát sinh từ quan hệ kinh doanh thương mại có liên quan đến quyền sử dụng hoặc các quyền khác đối với bất động sản tại Việt Nam sẽ chỉ do Tòa án Việt Nam giải quyết. Tại Việt Nam, những tranh chấp kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài liên quan đến quyền đối với bất động sản có thể là tranh chấp liên quan đến việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất; tranh chấp chuyển nhượng vốn mà phần vốn góp liên quan đến bất động sản; tranh chấp liên quan đến thuê, cho thuê lại, chuyển nhượng quyền sử dụng đất… Ví dụ, trong trường hợp doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài phát sinh tranh chấp từ hợp đồng cho thuê lại quyền sử dụng đất tại Việt Nam, thì tranh chấp này chỉ có thể được giải quyết bởi Tòa án Việt Nam; mọi phán quyết của Tòa án nước ngoài đối với tranh chấp này sẽ không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.

Thứ hai, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền riêng biệt khi các bên trong tranh chấp thỏa thuận lựa chọn Tòa án Việt Nam làm cơ quan giải quyết tranh chấp. Trong trường hợp này, sự thỏa thuận của các bên là căn cứ xác lập thẩm quyền riêng biệt cho Tòa án Việt Nam, đồng thời loại trừ thẩm quyền của Tòa án nước ngoài. Ví dụ, trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế giữa doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài, các bên có thể thỏa thuận điều khoản giải quyết tranh chấp tại Tòa án Việt Nam. Khi tranh chấp phát sinh, các bên chỉ có thể khởi kiện tại Tòa án Việt Nam theo thỏa thuận này; nếu một bên đơn phương khởi kiện tại Tòa án nước ngoài, thì bản án của Tòa án nước ngoài sẽ không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.

Trên đây là bài viết “Những tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài bắt buộc phải giải quyết tại tòa án Việt Nam?” mà TNTP gửi đến bạn đọc. Trường hợp có thông tin cần trao đổi, vui lòng liên hệ với TNTP để được giải đáp.

Trân trọng.

Áp dụng Bộ luật Dân sự hay Luật thương mại trong giải quyết tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng?

Tại Việt Nam, hợp đồng thi công xây dựng chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Khi Luật Xây dựng 2014 (“Luật Xây dựng”) – với tư cách luật chuyên ngành – không có quy định cụ thể, các cơ quan giải quyết tranh chấp sẽ xem xét tới Bộ luật Dân sự 2015 (“Bộ luật Dân sự”), Luật Thương mại 2005 (“Luật Thương mại”) và các văn bản hướng dẫn liên quan như Nghị định 37/2015/NĐ–CP quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng (“Nghị định 37”). Điều này dẫn tới tình trạng áp dụng pháp luật không thống nhất khi giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng thi công xây dựng. Bài viết này sẽ làm rõ sự khác nhau khi áp dụng các nguồn luật khác nhau để giải quyết tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng, từ đó làm rõ: khi Luật Xây dựng không có quy định, liệu Bộ luật Dân sự hay Luật Thương mại nên được ưu tiên áp dụng.

1. Luật áp dụng trong Giải quyết tranh chấp Hợp đồng thi công xây dựng

Nguyên tắc chủ đạo trong việc xác định pháp luật áp dụng giải quyết tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng là áp dụng luật chuyên ngành, cụ thể là Luật Xây dựng. Trong trường hợp Luật Xây dựng không có quy định, Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại và các văn bản hướng dẫn sẽ được xem xét để áp dụng. Hiện nay, Luật Xây dựng chưa có các quy định điều chỉnh 03 về: thời hiệu khởi kiện, mức phạt vi phạm hợp đồng và mức lãi chậm thanh toán.

1.1 Vấn đề xác định thời hiệu khởi kiện tranh chấp

Luật Xây dựng hiện không quy định trực tiếp về thời hiệu khởi kiện mà dẫn chiếu sang các quy định có liên quan. Khoản 3 Điều 45 Nghị định 37 quy định:

“Thời hiệu khởi kiện theo thủ tục Trọng tài hoặc thời hiệu khởi kiện lên Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng được thực hiện theo quy định có liên quan của pháp luật”.

Như vậy, để xác định thời hiệu, Tòa án hoặc Trọng tài phải dựa vào các quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại.

Bộ luật Dân sự quy định thời hiệu khởi kiện là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (Điều 429 Bộ luật Dân sự); trong khi Luật Thương mại quy định thời hiệu này là 02 năm kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm (Điều 319 Luật Thương mại).

1.2 Vấn đề xác định mức phạt vi phạm hợp đồng

Luật Xây dựng hiện chỉ có quy định với trường hợp công trình xây dựng sử dụng vốn nhà nước, cụ thể mức phạt vi phạm hợp đồng không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm (Khoản 2 Điều 146 Luật Xây dựng). Tuy nhiên, chưa có quy định mức phạt vi phạm đối với trường hợp các công trình xây dựng không sử dụng vốn nhà nước.

Do đó, với các công trình xây dựng không sử dụng vốn nhà nước, theo Bộ luật Dân sự, các bên có quyền thỏa thuận mức phạt trong hợp đồng (Khoản 2 Điều 418 Bộ luật Dân sự). Ngược lại, trong trường hợp áp dụng Luật Thương mại, mức phạt vi phạm sẽ bị giới hạn ở mức 8% giá trị phần nghĩa vụ vi phạm (Điều 301 Luật Thương mại).

1.3 Vấn đề xác định mức lãi chậm thanh toán

Luật Xây dựng hiện nay chỉ quy định bên giao thầu phải bồi thường cho bên nhận thầu trong trường hợp chậm thanh toán mà không quy định cụ thể mức lãi chậm trả (Điểm d Khoản 4 Điều 146 Luật Xây dựng). Nghị định 37 có hướng dẫn chi tiết hơn đối với trường hợp sử dụng vốn nhà nước hoặc dự án đối tác công tư, theo đó mức lãi chậm trả được xác định “theo lãi suất quá hạn do ngân hàng thương mại nơi bên nhận thầu mở tài khoản thanh toán công bố tương ứng với các thời kỳ chậm thanh toán” (Khoản 2 Điều 43 Nghị định 37).

Tuy nhiên, quy định trên không áp dụng đối với công trình không sử dụng vốn nhà nước. Trường hợp áp dụng Bộ luật Dân sự, mức lãi do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá 20%/năm của khoản tiền chậm trả; nếu không thỏa thuận, áp dụng mức lãi 10%/năm (Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự). Trường hợp Luật Thương mại được áp dụng, mức lãi chậm trả sẽ được xác định dựa trên “mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả” theo Điều 306 Luật Thương mại.

Như vậy, có thể thấy Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại tồn tại sự khác biệt lớn đối với các vấn đề về thời hiệu khởi kiện, mức phạt vi phạm và mức lãi chậm thanh toán trong hợp đồng thi công xây dựng. Những sự khác biệt này có thể gây ảnh hưởng trực tiếp tới quyền và lợi ích của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng thi công xây dựng.

2. Đánh giá về luật áp dụng trong Giải quyết tranh chấp Hợp đồng thi công xây dựng

Sự khác nhau khi áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng như trên đặt ra câu hỏi khi Luật Xây dựng không có quy định, Bộ luật Dân sự hay Luật Thương mại sẽ được áp dụng? Hiện nay, có 02 quan điểm liên quan tới vấn đề này.

2.1 Quan điểm 1: Ưu tiên áp dụng Bộ luật Dân sự bởi quan hệ phát sinh từ hợp đồng thi công xây dựng là quan hệ dân sự

Quan điểm này đã được thể hiện trong Dự thảo Án lệ 06/2024, theo đó Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xác định “Quan hệ phát sinh từ hợp đồng thi công xây dựng là quan hệ dân sự, do đó Bộ luật Dân sự sẽ được áp dụng trong trường hợp Luật Xây dựng không có quy định”.

Hiện nay chưa có lý giải cụ thể đối với quan điểm này, tuy nhiên có thể hiểu quan điểm này được đưa ra dựa trên chính định nghĩa về hợp đồng xây dựng (mà hợp đồng thi công xây dựng là một loại hợp đồng xây dựng). Khoản 1 Điều 138 Luật Xây dựng xác định “Hợp đồng xây dựng là hợp đồng dân sự bằng văn bản, thỏa thuận giữa bên giao thầu và bên nhận thầu để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc trong hoạt động đầu tư xây dựng”. Định nghĩa này đã xác định hợp đồng xây dựng là một hợp đồng dân sự, do đó các văn bản pháp luật trong lĩnh vực xây dựng (Luật Xây dựng và các văn bản hướng dẫn thi hành) được ưu tiên áp dụng. Khi các văn bản này không có quy định cụ thể, Bộ luật Dân sự với tư cách luật chung trong lĩnh vực dân sự sẽ được áp dụng. Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện tại, chưa có quyết định chính thức về việc ban hành Án lệ 06/2024. Vì vậy, quan điểm nêu trên chưa được coi là căn cứ để áp dụng khi giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng thi công xây dựng.

2.2 Quan điểm 2: Ưu tiên áp dụng Luật Thương mại bởi bản chất hợp đồng thi công xây dựng là hợp đồng thương mại

Quan điểm thứ 2 cho rằng trong trường hợp Luật Xây dựng không có quy định, Luật Thương mại sẽ được áp dụng. Quan điểm này xuất phát từ việc hợp đồng thi công xây dựng được ký giữa hai doanh nghiệp thực hiện các hoạt động với mục tiêu sinh lợi, và hoạt động này là phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại, theo đó “hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”.

Quan điểm này từng được Bộ Xây dựng gián tiếp thừa nhận trong Công văn số 1123/BXD–KTXD ngày 13/05/2019 Bộ Xây dựng gửi Văn phòng Chính phủ giải đáp kiến nghị về thưởng, phạt trong hợp đồng xây dựng rằng: “Những nội dung chưa được quy định tại Nghị định 37, các bên phải căn cứ vào các quy định pháp luật có liên quan để thực hiện (Luật Thương mại, Luật Dân sự…)”. Như vậy, Luật Thương mại vẫn có thể được áp dụng khi pháp luật xây dựng không có quy định cụ thể.

Thực tiễn xét xử cũng cho thấy không phải tất cả các tòa án đều loại trừ Luật Thương mại khỏi pháp luật áp dụng cho hợp đồng thi công xây dựng. Chẳng hạn, Bản án số 660/2022/KDTM–PT ngày 10/11/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án số 10/2020/KDTM–PT ngày 10/06/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Đà Nẵng đều áp dụng Luật Thương mại để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng thi công xây dựng. Điều này chứng tỏ vẫn tồn tại sự thừa nhận trong thực tiễn rằng hợp đồng xây dựng có thể được áp dụng theo Luật Thương mại nếu đáp ứng tiêu chí về hoạt động thương mại.

TNTP cho rằng trường hợp Luật Xây dựng không có quy định cụ thể, Luật Thương mại nên được ưu tiên áp dụng trong quá trình giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng thi công xây dựng. Bởi: Thứ nhất, hợp đồng thi công xây dựng cũng là một loại hợp đồng thương mại bởi các bên ký kết hợp đồng nhằm thực hiện các hoạt động với mục đích sinh lợi. Thứ hai, xét theo nguyên tắc “ưu tiên áp dụng pháp luật chuyên ngành trước luật chung” thì Luật Thương mại là Luật chuyên ngành, Bộ Luật dân sự là luật chung, do đó, nếu Luật thương mại có quy định thì cần phải được ưu tiên áp dụng. Luật dân sự chỉ được áp dụng khi Luật xây dựng, Luật Thương mại không có quy định cụ thể. Điều này được thể hiện tại khoản 3 Điều 4 BLDS 2015 “Trường hợp luật khác có liên quan không quy định hoặc có quy định nhưng vi phạm khoản 2 Điều này thì quy định của Bộ luật này được áp dụng” .

Tuy nhiên, để đảm bảo việc hiểu và áp dụng thống nhất pháp luật trong quá trình giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng thi công xây dựng, thiết nghĩ Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành nghị quyết hoặc thông qua án lệ nhằm hướng dẫn cụ thể, tránh việc mỗi Tòa áp dụng một kiểu khi giải quyết các vụ án phát sinh từ các Hợp đồng thi công xây dựng.

Trên đây là bài viết “Áp dụng Bộ luật Dân sự hay Luật thương mại trong giải quyết tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng?” mà TNTP gửi đến bạn đọc. Trường hợp có thông tin cần trao đổi, vui lòng liên hệ với TNTP để được giải đáp.

Trân trọng.

Từ 15/10/2025, Ngân hàng có thể tự thu giữ tài sản bảo đảm mà không cần khởi kiện?

Quyền thu giữ tài sản bảo đảm (“TSBĐ”) của các tổ chức tín dụng (“TCTD”) từng được quy định tại Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD (“Nghị quyết 42”). Sau khi Nghị quyết 42 hết hiệu lực từ ngày 01/01/2024, quyền thu giữ TSBĐ đã được chính thức quy định trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng số 96/2025/QH15 (“Luật TCTD 2025”), có hiệu lực từ ngày 15/10/2025. Bài viết dưới đây tổng hợp các nội dung chính liên quan tới quyền thu giữ TSBĐ trong Luật TCTD 2025, từ đó đánh giá khả năng thực hiện quyền trên thực tế.

1.Quy định mới của Luật TCTD 2025 về quyền tự thu giữ tài sản của TCTD

Luật TCTD 2025 bổ sung Điều 198a quy định cụ thể về quyền tự thu giữ TSBĐ của TCTD. Điều 198a.1 của Luật TCTD 2025 quy định Bên bảo đảm, người đang giữ tài sản bảo đảm (“Bên bảo đảm”) của khoản nợ xấu có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm kèm theo giấy tờ, hồ sơ pháp lý của TSBĐ cho TCTD để xử lý nợ. Trường hợp Bên bảo đảm không giao tài sản bảo đảm cho TCTD để xử lý nợ thì TCTD được thu giữ tài sản bảo đảm theo quy định tại Điều 198a.

Tuy nhiên, TCTD chỉ có quyền tự thu giữ tài sản khi đáp ứng các điều kiện tại Điều 198a.2 của Luật TCTD 2025:

  • Thứ nhất, khi xảy ra trường hợp xử lý TSBĐ theo quy định của Bộ luật Dân sự tại điều 299 (đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ; hoặc bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật; …).
  • Thứ hai, hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận về việc bên bảo đảm đồng ý cho bên nhận bảo đảm có quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu khi xảy ra trường hợp xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Quy định này nhằm bảo đảm nguyên tắc tự do thỏa thuận giữa các bên, phù hợp với Hiến pháp và Bộ luật Dân sự 2015.
  • Thứ ba, TSBĐ không là tài sản tranh chấp thuộc vụ án đang được Tòa thụ lý nhưng chưa giải quyết hoặc đang giải quyết, không bị áp dụng biện pháp khẩn chấp, kê biên, bị phong tỏa hay tạm đình chỉ xử lý theo quy định của pháp luật về phá sản.
  • Thứ tư, biện pháp bảo đảm đã phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba theo quy định của pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
  • Thứ năm, TCTD đã thực hiện nghĩa vụ công khai thông tin thu giữ TSBĐ. Điều 198a.3 và 198a.4 yêu cầu TCTD phải thực hiện nghĩa vụ công khai thông tin thu giữ TSBĐ và lý do thu giữ trước khi tiến hành thu giữ TSBĐ. Việc công khai được thực hiện bằng cách đăng tải thông tin trên website; gửi văn bản thông báo cho Ủy ban nhân dân (“UBND”) và Công an cấp xã nơi có tài sản; thông báo trực tiếp cho bên bảo đảm và người giữ tài sản (nếu có) theo phương thức đã thỏa thuận trong hợp đồng hoặc qua ủy quyền, dịch vụ bưu chính,… Đối với tài sản là bất động sản, việc công khai có thể tiến hành thêm bằng niêm yết văn bản tại trụ sở UBND xã nơi bên bảo đảm đăng ký địa chỉ hoặc nơi có tài sản và phải công khai chậm nhất 15 ngày trước ngày tiến hành thu giữ TSBĐ.

Trường hợp bên bảo đảm không hợp tác hoặc không có mặt theo thông báo của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm tham gia chứng kiến và ký biên bản thu giữ tài sản bảo đảm (Điều 198a.5).

2.Đánh giá khả năng thực hiện quyền thu giữ tài sản bảo đảm của TCTD

Thu giữ TSBĐ là quyền quan trọng giúp các TCTD xử lý nợ xấu hiệu quả. Tuy nhiên, trong thực tế, khả năng thực hiện quyền này phụ thuộc nhiều vào việc Bên bảo đảm có hợp tác hay không.

Trường hợp Bên bảo đảm đồng ý bàn giao tài sản, các điều kiện về việc thu giữ TSBĐ được đáp ứng đầy đủ và TCTD đã thực hiện công khai thông tin thu giữ đúng quy định, TCTD có thể tiến hành thu giữ TSBĐ mà không cần khởi kiện tại Tòa án hoặc Trọng tài. Việc này giúp quá trình thu hồi nợ của các TCTD diễn ra chủ động, nhanh chóng và hiệu quả.

Trong trường hợp Bên bảo đảm không tự nguyện bàn giao tài sản, giữa Bên bảo đảm và TCTD được xem là đã phát sinh tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản. Tuy nhiên, TCTD không có quyền cưỡng chế Bên bảo đảm giao TSBĐ. Đồng thời, theo khoản 5 Điều 198a Luật TCTD 2025, UBND cấp xã và Công an cấp xã tại nơi thu giữ TSBĐ chỉ có trách nhiệm bảo đảm an ninh, trật tự trong quá trình thu giữ, không tham gia vào việc cưỡng chế Bên bảo đảm giao TSBĐ. Do đó, câu hỏi đặt ra là liệu khi Bên bảo đảm không đồng ý bàn giao tài sản, TCTD có thể làm cách nào để tự mình thực hiện quyền thu giữ TSBĐ? Phải chăng trong trường hợp này, TCTD sẽ quay lại việc khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản, tương tự như cơ chế từng được áp dụng theo Nghị quyết 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao (nay đã hết hiệu lực)?

Trên đây là bài viết “Từ 15/10/2025, Ngân hàng có thể tự thu giữ tài sản bảo đảm mà không cần khởi kiện?” mà TNTP gửi đến bạn đọc. Trường hợp có thông tin cần trao đổi, vui lòng liên hệ với TNTP để được giải đáp.

Trân trọng.

Công ty Luật TNHH Quốc Tế TNTP và Các Cộng Sự

  • Văn phòng tại Hồ Chí Minh:
    Phòng 1901, Tầng 19 Tòa nhà Saigon Trade Center, 37 Tôn Đức Thắng, Phường Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Văn phòng tại Hà Nội:
    Số 2, Ngõ 308 Tây Sơn, phường Đống Đa, Hà Nội
  • Điện thoại:

  • Email: ha.nguyen@tntplaw.com

Bản quyền thuộc về: Công ty Luật TNHH Quốc Tế TNTP và Các Cộng Sự