Tổng hợp các quy định pháp luật mới theo Luật Đầu tư 2025
Luật Đầu tư 2025 đã được Quốc hội khóa XV thông qua ngày 11/12/2025 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2026. Đây là một bước tiến quan trọng trong quá trình hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về đầu tư tại Việt Nam, hướng tới mục tiêu tạo dựng một môi trường đầu tư minh bạch, thông thoáng và hiệu quả hơn, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh thu hút vốn trong khu vực. Các điểm mới của Luật Đầu tư 2025 không chỉ đơn thuần là sửa đổi kỹ thuật mà còn thể hiện tư duy lập pháp mới trong quản lý Nhà nước về đầu tư, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư trong và ngoài nước.
1.Quy định cụ thể các dự án thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư
Trước đây, tại Điều 30, 31, 32 Luật Đầu tư 2020 quy định về thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư có lồng ghép các loại dự án thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư, tuy nhiên việc quy định lồng ghép như trên mà không liệt kê chi tiết nhóm dự án cụ thể, dẫn tới việc các nhà đầu tư hiểu sai quy phạm pháp luật và các cơ quan có thẩm quyền áp dụng không thống nhất. Một trong những điểm thay đổi nổi bật nhất của Luật Đầu tư 2025 là sự rõ ràng hơn về phạm vi các dự án phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư. Theo quy định mới, danh mục dự án phải chấp thuận chủ trương đầu tư đã được liệt kê cụ thể tại Điều 24, bao gồm 20 nhóm dự án khác nhau.
Điều 25 Luật Đầu tư 2025 cũng phân cấp rõ thẩm quyền giữa Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh để xử lý thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư hiệu quả hơn. Cụ thể, Quốc hội chỉ xử lý đối với các dự án cần áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt; Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư với 08 nhóm dự án và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư với 13 nhóm dự án. Ngoài ra, khoản 4 Điều này cũng quy định các trường hợp Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế được quyền thực hiện việc chấp thuận chủ trương đầu tư.
2.Quy định mới về thủ tục đầu tư đặc biệt
Một điểm mới đáng chú ý khác của Luật Đầu tư 2025 là quy định về thủ tục đầu tư đặc biệt tại Điều 28. Thủ tục này cho phép các nhà đầu tư không cần thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư và các thủ tục khác mà chỉ cần đăng ký đầu tư đối với các dự án tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế và khu chức năng trong khu kinh tế, ngoại trừ dự án phải chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của Chính phủ.
So với Luật Đầu tư 2020, cơ chế mới này cho thấy xu hướng mở rộng cả về phạm vi địa bàn và về phạm vi thủ tục, không yêu một số cầu dự án phải xin chấp thuận chủ trương đầu tư, thẩm định công nghệ, lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, lập quy hoạch chi tiết, cấp Giấy phép xây dựng và các thủ tục để được phê duyệt, chấp thuận, cho phép trong lĩnh vực xây dựng, phòng cháy, chữa cháy; thay vào đó, cơ quan có thẩm quyền sẽ thực hiện các công việc để hậu kiểm tính tuân thủ pháp luật của các dự án thông qua việc thanh tra, kiểm tra, giám sát, đánh giá, xử lý vi phạm,… dựa trên cam kết của nhà đầu tư.
3.Quy định về việc điều chỉnh thời hạn hoạt động dự án đầu tư một cách linh hoạt hơn
Luật Đầu tư 2025 vẫn giữ nguyên khung thời hạn dự án so với Luật Đầu tư 2020. Tuy nhiên, điểm mới là tại Khoản 4 Điều 31 Luật Đầu tư 2025 đã quy định nhà đầu tư được phép điều chỉnh tăng hoặc giảm thời hạn hoạt động dự án trong quá trình triển khai mà không chỉ đơn thuần xin gia hạn khi thời hạn sắp kết thúc theo quy định tại Khoản 4 Điều 44 Luật Đầu tư 2020.
Ngoài ra, Khoản 6 Điều 52 Luật Đầu tư 2025 quy định đối với các dự án đầu tư đáp ứng điều kiện: đã triển khai trước ngày 01/3/2026, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính về đất đai và không thuộc trường hợp bị chấm dứt hoạt động theo quy định tại Điều 36 của Luật này mà được chuyển nhượng cho nhà đầu tư khác nhưng thời hạn hoạt động còn lại của dự án nhận chuyển nhượng không đáp ứng được phương án tài chính hoặc phương án đầu tư kinh doanh của nhà đầu tư nhận chuyển nhượng thì trên cơ sở đề xuất của nhà đầu tư nhận chuyển nhượng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, quyết định thời hạn hoạt động của dự án đầu tư khi thực hiện thủ tục chấp thuận, điều chỉnh chủ trương đầu tư hoặc cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
4.Bãi bỏ thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư ra nước ngoài và đơn giản hóa đầu tư ra nước ngoài
Khoản 1, Khoản 2 Điều 56 Luật Đầu tư 2020 quy định về thẩm quyền chấp nhận chủ trương đầu tư ra nước ngoài, theo đó liệt kê các dự án phải thực hiện thủ tục này. Tuy nhiên, Luật Đầu tư 2025 bãi bỏ thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư ra nước ngoài theo thẩm quyền của Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ theo Luật Đầu tư 2020 trước đây. Thay vào đó, Điều 42 Luật Đầu tư 2025 quy định nhà đầu tư cần làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ Tài chính đối với các dự án có mức vốn đầu tư ra nước ngoài theo quy định của Chính phủ hoặc dự án đầu tư có lĩnh vực thuộc ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 41 của Luật này.
Với dự án đầu tư ra nước ngoài có quy mô vốn lớn hoặc dự án đề xuất áp dụng cơ chế chính sách hỗ trợ đặc biệt, Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính xem xét, chấp thuận trước khi cấp, điều chỉnh giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, ngoại trừ các dự án chỉ cần thực hiện thủ tục đăng ký giao dịch ngoại hối theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối được xác định theo Khoản 3 Điều 42 Luật Đầu tư 2025.
5.Một số thay đổi khác trong Luật Đầu tư 2025
- Thu hẹp các trường hợp phải thực hiện thủ tục chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu tư
Khoản 3 Điều 41 Luật Đầu tư 2020 quy định 07 trường hợp nhà đầu tư có dự án đầu tư đã được chấp thuận chủ trương đầu tư phải thực hiện thủ tục chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu tư, tuy nhiên, tại Khoản 3 Điều 33 Luật Đầu tư 2025 chỉ quy định 05 trường hợp bắt buộc phải thực hiện thủ tục chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu tư và đã loại bỏ 02 trường hợp gồm: (i) Thay đổi tổng vốn đầu tư từ 20% trở lên làm thay đổi quy mô dự án đầu tư và (ii) Thay đổi công nghệ đã được thẩm định, lấy ý kiến trong quá trình chấp thuận chủ trương đầu tư.
- Quy định tạo thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài thành lập tổ chức kinh tế
Điểm b, điểm c Khoản 1 Điều 22 Luật Đầu tư 2020 quy định nhà đầu tư nước ngoài bắt buộc phải đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường và trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài bắt buộc phải có dự án đầu tư và thực hiện các thủ tục cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, trừ một số trường hợp pháp luật quy định. Luật Đầu tư 2025 quy định thể hiện sự cởi mở hơn đối với nhà đầu tư nước ngoài khi cho phép nhà đầu tư nước ngoài thành lập tổ chức kinh tế tại Việt Nam mà không cần có dự án đầu tư trước nhưng vẫn phải đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường hợp pháp.
- Thu hẹp các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện
Phụ lục IV Luật Đầu tư 2025 tiếp tục thu hẹp danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện so với Luật Đầu tư 2020 bằng việc giảm bớt và sửa đổi nhiều ngành nghề không cần thiết. Tuy nhiên, nhà đầu tư cũng cần phải theo dõi, lưu ý và lên phương án đầu tư kinh doanh phù hợp với Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện cần thiết phải cấp phép, chứng nhận trước khi thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh và Danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện phải chuyển phương thức quản lý điều kiện kinh doanh từ cấp phép, chứng nhận sang công bố yêu cầu, điều kiện kinh doanh để quản lý theo phương thức hậu kiểm do Chính phủ công bố theo quy định tại Khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư 2025.
Luật Đầu tư 2025 cho thấy sự chuyển biến rõ nét trong tư duy lập pháp, theo hướng minh bạch hóa thủ tục, phân định rõ thẩm quyền và giảm đáng kể các rào cản hành chính trong hoạt động đầu tư. Để tận dụng hiệu quả các thay đổi này, nhà đầu tư cần sớm nghiên cứu, cập nhật và xây dựng phương án triển khai phù hợp ngay trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Luật Đầu tư 2025 chính thức có hiệu lực.