Xác định thời điểm chuyển rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của Công ước Viên 1980
Trong bối cảnh thương mại quốc tế ngày càng mở rộng, việc xác định thời điểm chuyển rủi ro giữa người bán và người mua là một trong những vấn đề quan trọng nhằm bảo đảm sự an toàn pháp lý cho các bên trong hợp đồng mua bán. Theo đó, nhằm thiết lập một khung pháp lý thống nhất, Công ước Liên Hiệp Quốc về Hợp đồng Mua bán Hàng hóa Quốc tế năm 1980 (“Công ước Viên 1980”) đã được ban hành và đóng vai trò là nguồn luật điều chỉnh cơ bản cho các hợp đồng mua bán quốc tế. Trong bài viết này, TNTP sẽ phân tích thời điểm chuyển rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của Công ước Viên 1980.
1. Khái niệm thời điểm chuyển rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định
Rủi ro là những sự cố xảy ra bất ngờ gây hư hỏng, mất mát về hàng hóa, làm giảm sút giá trị hàng hoá trong quá trình thực hiện hợp đồng hoặc có thể gây thiệt hại cho một bên hoặc các bên tham gia ký kết.
Thời điểm chuyển rủi ro có thể hiểu là thời điểm pháp lý xác định khi nào trách nhiệm chịu rủi ro đối với hàng hoá được chuyển từ người bán sang người mua.
2. Quy định của Công ước Viên 1980 về nguyên tắc chuyển rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Nguyên tắc để xác định việc chuyển rủi ro hàng hóa được quy định tại Điều 66 Công ước Viên 1980 như sau:
2.1 Giới hạn trách nhiệm
Nguyên tắc giới hạn trách nhiệm theo Điều 66 là việc xác định những loại rủi ro mà người mua phải gánh chịu sau khi rủi ro đã chuyển giao, bao gồm: mất mát hàng hoá và hư hỏng hàng hoá. Mất mát hàng hóa là hàng hoá biến mất khỏi sự kiểm soát, bao gồm: hàng hóa bị thất lạc, đã bị đánh cắp hoặc bị chuyển giao cho một chủ thể khác. Hư hỏng hàng hóa là sự suy giảm về mặt vật lý, chất lượng hoặc số lượng của hàng hoá, bao gồm: hàng hóa bị phá hủy, bị giảm chất lượng do các tác động bên ngoài, bị thiếu hụt định lượng xảy ra trong quá trình vận chuyển hoặc lưu trữ.
Ngoài ra, trong thực tiễn giải quyết tranh chấp, một số trường hợp rủi ro khác cũng có thể được xem xét áp dụng Công ước Viên 1980, tùy thuộc vào quan điểm giải thích của Cơ quan giải quyết tranh chấp, như là: sự chậm trễ của người vận chuyển sau khi người bán đã giao hàng hóa cho người vận chuyển; hoặc rủi ro do các quy định của chính phủ sẽ cấm buôn bán hàng hóa; hoặc rủi ro do việc xác định quyền tác giả của một bức tranh là không chính xác.
2.2 Hậu quả pháp lý
Điều 66 Công ước Viên 1980 quy định sau khi rủi ro được chuyển giao hợp lệ từ người bán sang người mua thì người mua phải thực hiện việc thanh toán đầy đủ cho người bán như đã cam kết trong hợp đồng. Người mua chỉ được miễn trừ nghĩa vụ thanh toán trong trường hợp mất mát hàng hoá hay hư hỏng hàng hoá do hành động hoặc thiết sót của người bán.
3. Xác định thời điểm chuyển rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của Công ước Viên 1980
Trong mua bán hàng hóa quốc tế, thời điểm chuyển rủi ro giữ vai trò đặc biệt quan trọng bởi nó quyết định bên nào phải gánh chịu tổn thất khi hàng hóa bị mất mát hoặc hư hỏng trong quá trình lưu thông. Công ước Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980 (CISG) đã thiết lập những nguyên tắc rõ ràng nhằm phân định trách nhiệm giữa người bán và người mua trong từng tình huống cụ thể.
3.1 Chuyển rủi ro trong trường hợp hợp đồng quy định về vận chuyển
Đối với các hợp đồng mua bán quốc tế mà việc vận chuyển hàng hóa là một phần của nghĩa vụ thực hiện hợp đồng, Công ước Viên lựa chọn thời điểm giao hàng cho người vận chuyển làm mốc xác định chuyển giao rủi ro, với sự phân biệt rõ ràng giữa các kịch bản giao hàng khác nhau.
- Giao cho người vận chuyển đầu tiên
Khoản 1 Điều 67 Công ước Viên 1980 quy định trong trường hợp hợp đồng quy định nghĩa vụ vận chuyển hàng hóa của một bên khác và không ấn định nghĩa vụ giao hàng của người bán tại một địa điểm cụ thể, rủi ro hàng hoá chuyển từ người bán sang người mua kể từ lúc hàng hóa được giao cho người vận chuyển đầu tiên. Người vận chuyển theo Công ước Viên quy định phải là một bên thứ ba độc lập, không phụ thuộc vào quyền kiểm soát của người bán hay người mua. Nếu người vận chuyển là công ty con của một trong hai bên hợp đồng nhưng là một pháp nhân độc lập (tính độc lập trong trường hợp này thông thường sẽ được xác định dựa trên điều lệ và quy chế của công ty đó) thì khoản 1 Điều 67 vẫn được viện dẫn để xác định thời điểm chuyển giao rủi ro đối với hàng hóa trong trường hợp này.
- Giao hàng tại địa điểm xác định
Khi hợp đồng quy định nghĩa vụ của người bán là giao hàng cho một đơn vị vận chuyển tại một địa điểm đã được xác định thì thời điểm chuyển giao rủi ro mất mát hay hư hỏng hàng hóa sang cho người mua được xác định là thời điểm việc giao hàng hoá cho đơn vị vận chuyển được hoàn thành tại địa điểm đã chỉ định. Bên vận chuyển trong trường hợp này cũng được xem xét và áp dụng tương tự như trường hợp giao cho người vận chuyển đầu tiên.
Khoản 2 Điều 67 quy định trường hợp ngoại lệ là rủi ro chưa được chuyển giao cho người mua nếu hàng hóa thuộc đối tượng của hợp đồng mua bán chưa được nhận diện một cách rõ ràng. Việc nhận diện hàng hoá này phải được thực hiện thông qua các phương thức cụ thể như sử dụng ký hiệu, mã số trên hàng hóa, chứng từ vận chuyển, thông báo cho người mua hoặc các phương thức khác.
3.2 Chuyển rủi ro trong trường hợp mua bán hàng hóa trên đường vận chuyển
Trường hợp hàng hoá đang trên đường vận chuyển, rủi ro được xác định chuyển sang người mua tại thời điểm người bán và người mua giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 68 Công ước Viên 1980.
Tuy nhiên, Điều 68 cũng quy định hai trường hợp ngoại lệ quan trọng. Thứ nhất, dựa trên các yếu tố khách quan của giao dịch hoặc thói quen thương mại cho thấy một sự thoả thuận ngầm rằng người mua phải chịu rủi ro từ thời điểm hàng hóa được bàn giao cho người vận chuyển (người phát hành các tài liệu thể hiện hợp động vận chuyển). Thứ hai, người bán vẫn phải chịu trách nhiệm đối với những mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá trong trường hợp tại thời điểm ký kết hợp đồng người bán đã biết hoặc buộc phải biết rõ về tình trạng mất mát hoặc hư hỏng đó nhưng không thông báo cho người mua.
3.3 Chuyển rủi ro hàng hóa trong một số trường hợp khác
Bên cạnh các tình huống chuyển rủi ro gắn với hoạt động vận chuyển, Công ước Viên 1980 còn dự liệu những trường hợp mà người mua trực tiếp nhận hàng mà không thông qua cơ chế vận chuyển theo Điều 67. Trong các trường hợp này, thời điểm chuyển rủi ro được xác định chủ yếu dựa trên việc hàng hóa đã được đặt dưới quyền định đoạt thực tế của người mua hay chưa.
- Trường hợp người mua nhận hàng tại trụ sở của người bán
Khoản 1 Điều 69 Công ước Viên 1980 quy định khi hàng hóa được giao tại trụ sở, địa điểm kinh doanh của người bán, rủi ro được chuyển giao cho người mua hoặc người đại diện uỷ quyền của người mua là bên vận chuyển tại thời điểm họ thực tế nhận hàng. Ngoài ra, nếu người mua vi phạm hợp đồng là việc không nhận hàng đúng thời hạn đã thỏa thuận thì rủi ro sẽ được chuyển giao cho người mua khi hàng hóa được đặt dưới quyền định đoạt của người mua.
- Trường hợp người mua nhận hàng tại một địa điểm cụ thể khác
Khoản 2 Điều 69 Công ước Viên 1980 quy định rủi ro đối với hàng hóa sẽ được chuyển giao cho người mua tại thời điểm giao hàng trong trường hợp người mua có nghĩa vụ nhận hàng tại một địa điểm cụ thể khác (không phải trụ sở, địa điểm kinh doanh của người bán) và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 67 Công ước Viên 1980 nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau: việc giao hàng phải được thực hiện đúng thời hạn trong hợp đồng; hàng hóa phải được đặt dưới quyền định đoạt của người mua và người mua phải biết được điều đó.
Trên đây là bài viết “Xác định thời điểm chuyển rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của Công ước Viên 1980” mà TNTP gửi tới Quý bạn đọc. Rất mong bài viết sẽ đem lại nhiều hữu ích tới Quý bạn đọc về vấn đề này.
Trân trọng,