Skip to main content

Thế chấp quyền đòi nợ

Trong bối cảnh đời sống xã hội hiện nay, việc xác lập giao dịch dân sự giữa các chủ thể diễn ra rất thường xuyên, vì thế việc phát sinh các khoản nợ trong các giao dịch dân sự cũng vì thế mà tăng lên. Trong số đó, các trường hợp người có quyền đòi nợ từ người có nghĩa vụ thanh toán xuất hiện nhiều hơn (như nợ tiền bán tài sản, tiền vay, tiền dịch vụ,…) và từ việc phát sinh các khoản nợ này, chủ nợ có thể thực hiện các giao dịch dân sự với chủ thể khác (bên thứ ba) để đảm bảo một nghĩa vụ dân sự khác bằng “quyền đòi nợ”.

Trong bài viết này, TNTP sẽ phân tích chủ đề về “thế chấp quyền đòi nợ” dựa trên các quy định của pháp luật Việt Nam để bạn đọc có thêm góc nhìn về vấn đề này.

1.Khái niệm thế chấp, quyền đòi nợ

  • Khái niệm về thế chấp

Khái niệm về “thế chấp” căn cứ theo Khoản 1 Điều 317 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)”.

Về tài sản thế chấp, tại Điều 346 Bộ luật Dân sự 1995 quy định tài sản thế chấp chỉ là bất động sản thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ, đến Bộ luật Dân sự 2005 và Bộ luật Dân sự 2015 đã loại bỏ yêu cầu này.

  • Khái niệm về quyền đòi nợ

Theo Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “tài sản” trong đó bao gồm quyền tài sản, tuy nhiên, pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể khái niệm “quyền đòi nợ”. Có thể hiểu, “quyền đòi nợ” là một tài sản đặc biệt thể hiện dưới dạng vô hình và cho phép bên có “quyền đòi nợ” yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ thực hiện nghĩa vụ của mình.

Như vậy, thế chấp quyền đòi nợ là một hình thức bảo đảm, theo đó bên thế chấp sẽ thế chấp quyền yêu cầu thanh toán của mình với một chủ thể khác cho bên nhận thế chấp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ cho bên nhận thế chấp.

2.Xác lập biện pháp thế chấp bằng quyền đòi nợ

  • Chấp nhận “thế chấp bằng quyền đòi nợ”

Theo Điều 14 Nghị định 21/2021/NĐ-CP quy định “Bên có quyền trong hợp đồng được dùng quyền đòi nợ, các khoản phải thu, quyền yêu cầu thanh toán khác; quyền khai thác, quản lý dự án đầu tư; quyền cho thuê, cho thuê lại; quyền hưởng hoa lợi, lợi tức, lợi ích khác trị giá được bằng tiền hình thành từ hợp đồng; quyền được bồi thường thiệt hại; quyền khác trị giá được bằng tiền phát sinh từ hợp đồng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ”. Từ quy định này, chủ nợ có quyền “thế chấp quyền đòi nợ” của mình cho bên thứ ba khác.

Bên cạnh, theo Khoản 2 Điều 365 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 33 Nghị định 21/2021/NĐ-CP quy định: “Việc thế chấp bằng quyền đòi nợ, khoản phải thu, quyền yêu cầu thanh toán khác không cần có sự đồng ý của người có nghĩa vụ nhưng người này phải được bên nhận thế chấp thông báo để biết trước khi thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật”. Theo đó, chủ nợ có thể thế chấp quyền đòi nợ cho bên thứ ba mà không cần có sự đồng ý từ bên có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ, khi thực hiện việc chuyển giao này, chủ nợ cần thông báo cho bên có nghĩa vụ biết.

Từ các quy định trên, chủ nợ có thể thế chấp “quyền đòi nợ” của mình cho bên thứ ba mà không cần có sự đồng ý của bên có nghĩa vụ thanh toán, nếu không có thoả thuận khác, chủ nợ có nghĩa vụ thông báo bằng văn bản cho bên nợ về sự thay đổi này.

  • Hình thức của “thế chấp bằng quyền đòi nợ”

Điều 318 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 22 Nghị định 21/2021/NĐ-CP thì hình thức của giao dịch thế chấp được nới lỏng đáng kể. Hợp đồng bảo đảm chỉ bắt buộc công chứng, chứng thực khi pháp luật chuyên ngành có quy định hoặc theo nhu cầu của các bên. Trong các trường hợp còn lại, giao dịch có hiệu lực dựa trên sự thỏa thuận hoặc tại thời điểm giao kết, không bắt buộc về hình thức bao gồm cả lời nói hoặc hành vi thực tế.

Từ đó, ở pháp luật Việt Nam hiện nay, “thế chấp quyền đòi nợ” đã có sự linh hoạt cho phép các bên tự do thoả thuận hình thức phù hợp với tính chất của từng loại tài sản.

3.Vấn đề về xử lý thế chấp quyền đòi nợ

Về yêu cầu trực tiếp bên có nghĩa vụ trả nợ, theo Khoản 2 Điều 54 Nghị định 21/2021/NĐ-CP quy định “bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu người thứ ba là người có nghĩa vụ thanh toán. Bên nhận bảo đảm phải chứng minh quyền của mình trong trường hợp người có nghĩa vụ có yêu cầu” tức bên nhận thế chấp có quyền đòi nợ về các khoản nợ này từ bên có nghĩa vụ thanh toán. Và nếu có yêu cầu từ bên có nghĩa vụ, bên nhận đảm bảo cần chứng minh quyền này cho bên yêu cầu.

Trên đây là bài viết “Thế chấp quyền đòi nợ” mà TNTP gửi đến bạn đọc. Trường hợp có thông tin cần trao đổi, vui lòng liên hệ với TNTP để được giải đáp.

Trân trọng.

 

 

 

 

 

 

 

Công ty Luật TNHH Quốc Tế TNTP và Các Cộng Sự

  • Văn phòng tại Hồ Chí Minh:
    Phòng 1901, Tầng 19 Tòa nhà Saigon Trade Center, 37 Tôn Đức Thắng, Phường Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Văn phòng tại Hà Nội:
    Số 2, Ngõ 308 Tây Sơn, phường Đống Đa, Hà Nội
  • Điện thoại:

  • Email: ha.nguyen@tntplaw.com

Bản quyền thuộc về: Công ty Luật TNHH Quốc Tế TNTP và Các Cộng Sự