Một số nội dung quan trọng của Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025
Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng trong khuôn khổ pháp lý về bảo vệ dữ liệu cá nhân tại Việt Nam. Theo đó, các hoạt động thu thập, lưu trữ và xử lý dữ liệu của khách hàng, người lao động hoặc đối tác tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý nếu không được thực hiện đúng quy định. Việc ban hành Luật này đã thiết lập các nguyên tắc và nghĩa vụ, giúp tổ chức, cá nhân chủ động kiểm soát, bảo vệ dữ liệu cá nhân, đồng thời đặt ra các yêu cầu chặt chẽ hơn đối với trách nhiệm tuân thủ trong quá trình sử dụng dữ liệu. Trong bài viết dưới đây, TNTP sẽ phân tích một số nội dung quy định quan trọng cần lưu ý của Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 (“LBVDLCN 2025”).
1.Quy định định nghĩa về dữ liệu cá nhân
Định nghĩa dữ liệu cá nhân (“DLCN”) được LBVDLCN 2025 làm rõ tại Điều 2 về giải thích từ ngữ. Theo đó, DLCN được hiểu là dữ liệu số hoặc thông tin dưới dạng khác dùng để xác định hoặc giúp xác định một con người cụ thể. Trường hợp DLCN đã được khử nhận dạng theo quy định của pháp luật thì không còn được coi là DLCN.
Trên cơ sở khái niệm chung nêu trên, LBVDLCN 2025 phân loại DLCN thành hai nhóm, bao gồm:
- DLCN cơ bản: là DLCN phản ánh các yếu tố nhân thân, lai lịch phổ biến, thường xuyên được sử dụng trong các giao dịch và quan hệ xã hội.
- DLCN nhạy cảm: là DLCN gắn liền với quyền riêng tư của cá nhân, mà việc xâm phạm có thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Việc xác định một loại dữ liệu cụ thể có được coi là DLCN cơ bản hay DLCN nhạy cảm phải căn cứ vào danh mục do Chính phủ ban hành.
Như vậy, quy định về DLCN tại Điều 2 LBVDLCN 2025 thể hiện cách tiếp cận tiến bộ và phù hợp khi xác định rõ phạm vi DLCN. Việc phân chia DLCN thành DLCN cơ bản và DLCN nhạy cảm là hợp lý, góp phần làm rõ mức độ cần bảo vệ đối với từng loại dữ liệu và tạo cơ sở cho việc áp dụng các biện pháp bảo vệ phù hợp, hiệu quả hơn.
2.Quy định các hành vi nghiêm cấm liên quan tới dữ liệu cá nhân
Điều 7 LBVDLCN 2025 quy định cụ thể các hành vi bị nghiêm cấm đối với cá nhân, tổ chức trong hoạt động bảo vệ DLCN, bao gồm:
- Xử lý DLCN nhằm chống lại Nhà nước, gây ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
- Cản trở hoạt động bảo vệ DLCN;
- Lợi dụng hoạt động bảo vệ DLCN nhằm thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;
- Xử lý DLCN trái quy định pháp luật;
- Sử dụng DLCN của người khác hoặc cho người khác sử dụng DLCN của mình để thực hiện hành vi trái quy định pháp luật;
- Mua, bán DLCN, trừ trường hợp luật quy định khác; và
- Chiếm đoạt, cố ý làm lộ, mất DLCN.
Việc xác định cụ thể các hành vi bị nghiêm cấm tại Điều 7 LBVDLCN 2025 cho thấy quan điểm lập pháp nhất quán trong việc tăng cường bảo vệ DLCN. Các quy định này hướng tới việc kiểm soát chặt chẽ các rủi ro phát sinh từ hoạt động xử lý DLCN, đặc biệt là nguy cơ lộ, mất thông tin và việc lợi dụng DLCN để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, qua đó bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân.
3.Quy định về xử lý vi phạm trong hoạt động bảo vệ dữ liệu cá nhân
Theo quy định tại Điều 8 LBVDLCN 2025, tùy thuộc vào tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi vi phạm quy định về bảo vệ DLCN, cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm có thể bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, trong trường hợp phát sinh thiệt hại, chủ thể vi phạm còn phải thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật.
Về mức phạt tiền khi xử lý vi phạm hành chính, LBVDLCN 2025 cũng quy định cụ thể về mức phạt tối đa đối với tổ chức (cá nhân thực hiện cùng hành vi vi phạm sẽ có mức phạt tối đa bằng một phần hai mức phạt tối đa đối với tổ chức) như sau:
- Hành vi mua, bán DLCN: 10 lần khoản thu các chủ thể có được từ hành vi vi phạm. Trường hợp không có khoản thu từ hành vi vi phạm hoặc mức phạt tính theo khoản thu có được từ hành vi vi phạm thấp hơn 3.000.000.000 đồng, thì áp dụng mức phạt tiền tối đa là 3.000.000.000 đồng.
- Hành vi vi phạm quy định chuyển DLCN xuyên biên giới: 5% doanh thu của năm trước liền kề. Trường hợp không có doanh thu của năm trước liền kề hoặc mức phạt tính theo doanh thu thấp hơn 000.000.000 đồng, thì áp dụng mức phạt tiền tối đa là 3.000.000.000 đồng.
- Hành vi khác trong lĩnh vực bảo vệ DLCN: 3.000.000.000 đồng.
Quy định về xử lý vi phạm về bảo vệ DLCN thể hiện quan điểm xử lý nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ DLCN khi kết hợp cả chế tài hành chính, hình sự và dân sự. Việc quy định mức phạt tiền cao, đặc biệt đối với hành vi mua bán DLCN và chuyển DLCN xuyên biên giới, cho thấy tính răn đe mạnh, góp phần nâng cao ý thức tuân thủ và tăng cường hiệu quả bảo vệ DLCN trong thực tiễn.
Như vậy, LBVDLCN 2025 đã thiết lập khuôn khổ pháp lý đối với hoạt động thu thập, lưu trữ và xử lý DLCN, đặt ra các yêu cầu chặt chẽ về trách nhiệm tuân thủ đối với cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan. Việc tuân thủ đúng các quy định của Luật không chỉ nhằm phòng ngừa rủi ro pháp lý và các chế tài nghiêm khắc, mà còn góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể dữ liệu trong môi trường số.
Trân trọng,