Nghĩa vụ bảo hành công trình xây dựng: Quy định pháp luật và các dạng tranh chấp phổ biến
Tranh chấp về nghĩa vụ bảo hành công trình xây dựng là một dạng tranh chấp phổ biến trong lĩnh vực xây dựng tại Việt Nam, thường phát sinh khi các bên không thống nhất về phạm vi, thời hạn hoặc trách nhiệm bảo hành. Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp, các bên cần nắm rõ quy định pháp luật hiện hành và lựa chọn phương thức giải quyết phù hợp khi phát sinh loại tranh chấp này. Bài viết này phân tích quy định pháp luật hiện hành và các dạng tranh chấp phổ biến liên quan đến nghĩa vụ bảo hành công trình xây dựng.
1.Quy định về nghĩa vụ bảo hành công trình xây dựng
Căn cứ khoản 17 Điều 2 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26 tháng 01 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng (“Nghị định 06”), bảo hành công trình xây dựng là sự cam kết của nhà thầu về trách nhiệm khắc phục, sửa chữa trong một thời gian nhất định các hư hỏng, khiếm khuyết có thể xảy ra trong quá trình khai thác, sử dụng công trình xây dựng.
Về thời hạn bảo hành công trình xây dựng, Điều 28 Nghị định 06 quy định thời hạn bảo hành đối với hạng mục công trình, công trình xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp được tính kể từ khi được chủ đầu tư nghiệm thu, cụ thể như sau:
- Không ít hơn 24 tháng đối với công trình cấp đặc biệt và cấp I sử dụng vốn đầu tư công hoặc vốn nhà nước ngoài đầu tư công;
- Không ít hơn 12 tháng đối với các công trình cấp còn lại sử dụng vốn đầu tư công hoặc vốn nhà nước ngoài đầu tư công;
- Đối với công trình sử dụng vốn khác, các bên có thể tham khảo mức tối thiểu nêu trên để thỏa thuận trong hợp đồng xây dựng.
- Đối với các thiết bị công trình, thiết bị công nghệ, thời hạn bảo hành được xác định theo hợp đồng xây dựng nhưng không ngắn hơn thời gian bảo hành theo quy định của nhà sản xuất và được tính kể từ khi nghiệm thu hoàn thành công tác lắp đặt, vận hành thiết bị.
- Đối với các hạng mục công trình trong quá trình thi công có khiếm khuyết về chất lượng hoặc xảy ra sự cố đã được nhà thầu sửa chữa, khắc phục thì thời hạn bảo hành của các hạng mục công trình này có thể kéo dài hơn trên cơ sở thỏa thuận giữa chủ đầu tư với nhà thầu thi công xây dựng trước khi được nghiệm thu.
Về giá trị bảo hành, theo khoản 7 Điều 28 Nghị định 06, mức tiền bảo hành tối thiểu thường từ 3% đến 5% giá trị hợp đồng, trong đó:
- 3% giá trị hợp đồng đối với công trình xây dựng cấp đặc biệt và cấp I;
- 5% giá trị hợp đồng đối với công trình xây dựng cấp còn lại;
- Đối với công trình sử dụng vốn khác thì có thể tham khảo mức tối thiểu nêu trên.
Về trách nhiệm của các bên trong bảo hành công trình xây dựng, theo Điều 29 Nghị định 06, khi phát hiện hư hỏng, khiếm khuyết trong thời gian bảo hành, chủ đầu tư hoặc người quản lý, sử dụng công trình có trách nhiệm thông báo cho nhà thầu để yêu cầu thực hiện bảo hành. Nhà thầu có nghĩa vụ thực hiện bảo hành và chịu mọi chi phí liên quan.
Tuy nhiên, nhà thầu có quyền từ chối bảo hành nếu hư hỏng phát sinh không do lỗi của nhà thầu hoặc do nguyên nhân bất khả kháng theo quy định hợp đồng. Nếu nhà thầu từ chối bảo hành mà không có căn cứ hợp lệ, chủ đầu tư có quyền sử dụng tiền bảo hành để thuê tổ chức, cá nhân khác thực hiện bảo hành.
Như vậy, pháp luật xây dựng Việt Nam đã thiết lập khung pháp lý tương đối toàn diện về nghĩa vụ bảo hành công trình xây dựng, từ thời hạn, giá trị bảo hành đến trách nhiệm cụ thể của từng chủ thể.
2.Một số tranh chấp về nghĩa vụ bảo hành công trình phổ biến
Tranh chấp về nghĩa vụ bảo hành công trình xây dựng phát sinh từ nhiều nguyên nhân khác nhau và xuất hiện ở nhiều giai đoạn. Dưới đây là một số dạng tranh chấp phổ biến trong thực tiễn tại Việt Nam.
- Tranh chấp về việc xác định thời điểm và thời hạn bảo hành
Đây là dạng tranh chấp về nghĩa vụ bảo hành công trình xây dựng xảy ra khi các bên không thống nhất về thời điểm nghiệm thu (thời điểm bắt đầu tính thời hạn bảo hành). Trên thực tế, nhiều công trình không có biên bản nghiệm thu chính thức, khiến các bên có sự bất đồng về việc thời hạn bảo hành. Ngoài ra, trường hợp hợp đồng xây dựng không thỏa thuận rõ thời hạn bảo hành cũng thường dẫn đến tranh chấp.
- Tranh chấp về phạm vi và trách nhiệm thực hiện bảo hành
Tranh chấp phát sinh khi nhà thầu từ chối thực hiện bảo hành với lý do hư hỏng không do lỗi của nhà thầu, hoặc chủ đầu tư yêu cầu bảo hành những hạng mục nằm ngoài phạm vi hợp đồng. Việc xác định nguyên nhân hư hỏng do lỗi nhà thầu, lỗi chủ đầu tư hay sự kiện bất khả kháng thường yêu cầu việc giám định kỹ thuật chuyên sâu, dẫn đến việc tranh chấp bị kéo dài.
- Tranh chấp về việc hoàn trả tiền bảo hành hoặc giải tỏa thư bảo lãnh bảo hành sau khi hết thời hạn bảo hành
Dạng tranh chấp này liên quan đến nghĩa vụ của bên giao thầu trong việc hoàn trả tiền bảo hành sau khi kết thúc thời hạn bảo hành và nhà thầu đã hoàn thành nghĩa vụ bảo hành. Trên thực tế, nhiều chủ đầu tư chậm hoàn trả tiền bảo hành hoặc giữ lại tiền bảo hành mà không có căn cứ hợp lệ, dẫn đến tranh chấp về nghĩa vụ bảo hành công trình xây dựng và yêu cầu tính lãi chậm trả.
Như vậy, có thể thấy rằng tranh chấp về nghĩa vụ bảo hành công trình xây dựng phát sinh khá đa dạng. Những tranh chấp này thường xuất phát từ việc hợp đồng không quy định rõ ràng, việc nghiệm thu và quản lý hồ sơ chưa chặt chẽ hoặc do sự khác biệt trong cách hiểu và áp dụng quy định pháp luật giữa các bên. Vì vậy, việc quy định cụ thể, minh bạch các điều khoản liên quan đến bảo hành trong hợp đồng xây dựng, đồng thời thực hiện đầy đủ các thủ tục nghiệm thu, giám định và quản lý hồ sơ công trình là yếu tố quan trọng nhằm hạn chế phát sinh tranh chấp trong thực tiễn.
Trên đây là bài viết của TNTP về “Nghĩa vụ bảo hành công trình xây dựng: Quy định pháp luật và các dạng tranh chấp phổ biến”. Quý khách hàng có thể theo dõi nội dung về các phương thức giải quyết tranh chấp trong bài viết tiếp theo của TNTP.
Trong trường hợp Quý khách hàng cần hỗ trợ tư vấn hoặc giải quyết tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ bảo hành công trình xây dựng, vui lòng liên hệ TNTP để được hỗ trợ chi tiết.
Trân trọng,