Giải pháp khi toà án yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện

Để giải quyết vụ án đúng thẩm quyền theo lãnh thổ, trên thực tế có rất nhiều Toà án đã yêu cầu người khởi kiện phải nộp văn bản xác nhận địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp hoặc xác nhận. Tuy nhiên việc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác nhận địa chỉ này thực tế phát sinh rất nhiều khó khăn. Trong bài viết này, luật sư của TNTP sẽ đề cập và phân tích giải pháp khi Toà án yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ là xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện cho người khởi kiện khi gặp phải tình huống này.
1.Hình thức, nội dung đơn khởi kiện phải ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người bị kiện.
- Căn cứ khoản 4 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định Đơn khởi kiện phải có nội dung sau: “đ) Tên, nơi cư trú, làm việc của người bị kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người bị kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có). Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người bị kiện thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người bị kiện”.
Đồng thời tại Điều 9 Mục IV Công văn số 02/TANDTC-PC ngày 02/08/2021 của Toà án nhân dân tối cao về việc giải đáp một số vướng mắc trong xét xử quy định: “… người khởi kiện đã ghi đúng, đầy đủ địa chỉ của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo địa chỉ ghi trong giao dịch, hợp đồng thì Toà án phải thụ lý vụ án mà không được yêu cầu người khởi kiện phải cung cấp bổ sung văn bản xác minh nơi cư trú của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan …”
- Do vậy có thể thấy theo quy định của pháp luật thì người khởi kiện phải ghi rõ địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, cụ thể: số nhà, ngõ, ngách, hẻm, đường, tổ dân phố, xóm, xã/phường, huyện/quận, tỉnh, thành phố, … để đảm bảo đúng nội dung và hình thức mà đơn khởi kiện cần phải có theo quy định.
Xét trên góc độ pháp luật và thực tiễn tại giai đoạn tố tụng thì việc cung cấp thông tin địa chị người bị kiện sẽ giúp cho Toà án xác định được thẩm quyền giải quyết vụ án theo lãnh thổ quy định tại Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đồng thời đảm bảo cho Toà án khi thụ lý giải quyết vụ án có thể tống đạt được các văn bản tố tụng đến người bị kiện theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên trên thực tế, nhiều cơ quan có thẩm quyền không tạo điều kiện hoặc gây khó khăn cho người khởi kiện khi được yêu cầu hỗ trợ xác minh địa chỉ của người bị kiện.
2.Yêu cầu Toà án thu thập tài liệu, chứng cứ trong trường hợp người khởi kiện không cung cấp xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện.
- Tại thời điểm nộp đơn khởi kiện, nhiều trường hợp tuy người khởi kiện đã ghi rõ địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện cùng các tài liệu kèm theo nhưng Toà án vẫn yêu cầu phải có xác nhận địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp hoặc xác nhận dựa trên căn cứ quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 5 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao:
“2. Người khởi kiện đã cung cấp địa chỉ “nơi cư trú, làm việc, hoặc nơi có trụ sở” của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho Tòa án theo đúng quy định của pháp luật và hướng dẫn tại khoản 1 Điều này tại thời điểm nộp đơn khởi kiện mà được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng minh rằng đó là địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì được coi là đã ghi đúng địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Địa chỉ “nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng” của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan quy định tạiđiểm đ, e khoản 4 Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015là địa chỉ người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã từng cư trú, làm việc hoặc có trụ sở mà người khởi kiện biết được gần nhất tính đến thời điểm khởi kiện và được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng minh.”
- Tuy nhiên, tại điểm d khoản 3 Điều 13 Nghị định số 62/2021/NĐ-CP ngày 29/06/2021 quy định chi tiết một số điều luật cư trú quy định: “d) Cơ quan, tổ chức và công dân không thuộc quy định tại các điểm a, b, c khoản này có nhu cầu cung cấp, trao đổi thông tin, tài liệu trong Cơ sở dữ liệu về cư trú của công dân khác phải được công dân đó đồng ý bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực và được Trưởng Công an cấp xã hoặc Trưởng Công an cấp huyện nơi không có đơn vị hành chính cấp xã tại nơi công dân đó đăng ký thường trú hoặc tạm trú đồng ý cho phép cung cấp, trao đổi thông tin.”
Như vậy có thể thấy, tuy nghĩa vụ cung cấp thông tin về địa chỉ của người bị kiện thuộc về người khởi kiện, nhưng nếu không có văn bản đồng ý của người bị kiện thì người khởi kiện sẽ không được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp hoặc xác nhận thông tin địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện. Do đó, người khởi kiện gần như không thể tự mình xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ về địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện.
- Trong trường hợp này, người khởi kiện có thể nêu rõ lý do về việc không cung cấp được tài liệu, chứng cứ về địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện và nêu ra các căn cứ pháp lý cho thấy trách nhiệm của Toà án trong việc hỗ trợ người khởi kiện thu thập tài liệu, chứng cứ mà tự mình không thể xác minh, thu thập được. Cụ thể là dựa vào các căn cứ pháp lý sau:
- Khoản 2 Điều 6 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015:
“2. Toà án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định”.
- Khoản 7 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015:
“7. Đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ việc mà tự mình không thể thực hiện được; đề nghị Tòa án yêu cầu đương sự khác xuất trình tài liệu, chứng cứ mà họ đang giữ; đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, quyết định việc định giá tài sản.”
- Điểm e khoản 1 Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015:
“e) Yêu cầu Toà án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương sự không thể thu thập tài liệu, chứng cứ
Như vậy, trường hợp nếu tòa án có yêu cầu người khởi kiện phải cung cấp tài liệu có xác nhận của các cơ quan có thẩm quyền đối với địa chỉ của người bị kiện. Người khởi kiện có thể tiến hành việc đề nghị Tòa án hỗ trợ thu thập do không thể tự thu thập các tài liệu này.
Trên đây là bài viết pháp lý của TNTP về chủ đề: “Giải pháp khi toà án yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện”.Chúng tôi mong rằng bài viết này có ích cho các độc giả trong quá trình khởi kiện tại Toà án.
Trân trọng.