Skip to main content

Chủ doanh nghiệp có phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp không?

| TNTP LAW |

Trong môi trường kinh doanh hiện nay, việc doanh nghiệp phát sinh nợ là điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên, một hiểu lầm khá phổ biến là mọi khoản nợ của doanh nghiệp hoàn toàn không liên quan đến chủ doanh nghiệp.

Hiện nay, Luật Doanh nghiệp chưa có quy định cụ thể về khái niệm “chủ doanh nghiệp”. Tùy theo loại hình doanh nghiệp, “chủ doanh nghiệp” có thể được hiểu là thành viên hợp danh trong công ty hợp danh, chủ doanh nghiệp tư nhân đối với doanh nghiệp tư nhân, các cổ đông trong công ty cổ phần, hoặc chủ sở hữu công ty trong công ty trách nhiệm hữu hạn. Trong phạm vi bài viết này, các chủ thể nêu trên được gọi chung là “chủ doanh nghiệp”.

Tùy vào loại hình doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp sẽ có phạm vi chịu trách nhiệm khác nhau đối với các khoản nợ của doanh nghiệp. Trong bài viết này, TNTP sẽ phân tích và làm rõ vấn đề: “Chủ doanh nghiệp có phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp hay không?”

1. Nợ của doanh nghiệp là gì?

Theo quy định của Luật Thương mại 2005, khi các bên giao kết hợp đồng thương mại, bên bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa hoặc thực hiện dịch vụ cho bên mua; đồng thời có quyền nhận thanh toán từ bên mua hoặc sử dụng dịch vụ. Ngược lại, bên mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ thanh toán và có quyền sở hữu hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ theo đúng thỏa thuận giữa hai bên. Như vậy, nếu doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng hạn đối với hàng hóa, dịch vụ thì những khoản chưa thanh toán này được xem là nợ của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn có thể phát sinh các khoản nợ vay từ tổ chức tín dụng hoặc tổ chức khác. Những khoản nợ này thường được ghi nhận trong hợp đồng vay nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Khi đó, chủ thể có nghĩa vụ thanh toán là doanh nghiệp, thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền hợp pháp.

Như vậy, về nguyên tắc, doanh nghiệp là chủ thể có nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ của mình. Tuy nhiên, một vấn đề quan trọng đặt ra là: nếu doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, liệu chủ doanh nghiệp có nghĩa vụ trả nợ thay hay không? Theo Luật Doanh nghiệp 2020 (“Luật Doanh nghiệp”), phạm vi trách nhiệm của chủ doanh nghiệp đối với các khoản nợ của doanh nghiệp phụ thuộc vào loại hình doanh nghiệp. Theo đó, tùy từng trường hợp, chủ doanh nghiệp có thể phải chịu trách nhiệm vô hạn hoặc trách nhiệm hữu hạn.

2. Trường hợp chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn với khoản nợ của doanh nghiệp

Trách nhiệm vô hạn được hiểu là trách nhiệm của chủ doanh nghiệp phải chịu bằng toàn bộ tài sản của mình – bao gồm cả phần vốn góp và tài sản cá nhân – đối với các khoản nợ của doanh nghiệp khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán. Cơ chế này áp dụng với 02 loại hình doanh nghiệp là Công ty hợp danh và Doanh nghiệp tư nhân.

Theo Điểm b Khoản 1 Điều 177 Luật Doanh nghiệp, các thành viên hợp danh là cá nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty hợp danh. Tương tự, theo Khoản 1 Điều 188 Luật Doanh nghiệp, Doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

Như vậy theo quy định của pháp luật, Công ty hợp danh và Doanh nghiệp tư nhân là 2 loại hình doanh nghiệp mà chủ doanh nghiệp sẽ phải chịu trách nhiệm vô hạn với các nghĩa vụ của doanh nghiệp, bao gồm cả nghĩa vụ thanh toán khoản nợ của doanh nghiệp. Ví dụ khi doanh nghiệp với hình thức là Doanh nghiệp tư nhân phá sản, chủ doanh nghiệp sẽ phải dùng tài sản cá nhân của mình để thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán của doanh nghiệp. Đây là lý do tại sao 2 loại hình doanh nghiệp nêu trên thường ít được những nhà đầu tư lựa chọn để thành lập doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh.

3. Trường hợp chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn với khoản nợ của doanh nghiệp

Trách nhiệm hữu hạn được hiểu là trách nhiệm đối với các nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp mà chủ doanh nghiệp hoặc các thành viên góp vốn phải chịu trong phạm vi phần vốn đã góp, không phải dùng tài sản cá nhân để thanh toán nợ của doanh nghiệp. Cơ chế này áp dụng đối với 03 loại hình doanh nghiệp phổ biến, gồm: Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, và Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.

Theo Điểm c Khoản 1 Điều 111 Luật Doanh nghiệp, cổ đông của công ty cổ phần chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp. Tương tự, Khoản 1 Điều 74 Luật Doanh nghiệp quy định chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn điều lệ. Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, Khoản 1 Điều 46 Luật Doanh nghiệp cũng xác định rằng các thành viên chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn đã góp vào công ty. Như vậy, về nguyên tắc, chủ doanh nghiệp của 03 loại hình doanh nghiệp nêu trên không phải dùng tài sản cá nhân để thực hiện nghĩa vụ thanh toán của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, nguyên tắc trách nhiệm hữu hạn không phải lúc nào cũng được áp dụng một cách tuyệt đối. Thứ nhất, với trường hợp giải thể, theo khoản 2 Điều 207 Luật Doanh nghiệp, doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản khác và không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc Trọng tài. Điều này có nghĩa là trước khi thực hiện thủ tục giải thể, chủ doanh nghiệp phải đảm bảo rằng toàn bộ các nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp đã được hoàn thành. Hay nói cách khác không thể tùy tiện chấm dứt tư cách pháp nhân của doanh nghiệp khi chưa thanh toán hết các khoản nợ. Thứ hai, Điều 12 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định về Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp: “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp… Trường hợp việc phân chia quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật chưa được quy định rõ trong Điều lệ công ty thì mỗi người đại diện theo pháp luật của công ty đều là đại diện đủ thẩm quyền của doanh nghiệp trước bên thứ ba; tất cả người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm liên đới đối với thiệt hại gây ra cho doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về dân sự…”. Bên cạnh đó, Khoản 2 Điều 13 của Luật Doanh nghiệp quy định về Trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cũng nêu rõ: “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm cá nhân đối với thiệt hại cho doanh nghiệp do vi phạm trách nhiệm quy định tại khoản 1 Điều này”. Do đó, trong trường vượt quá phạm vi thẩm quyền khi ký kết hợp đồng, gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ tài chính cho doanh nghiệp, họ có thể phải chịu trách nhiệm cá nhân về phần thiệt hại đó. Tóm lại, nguyên tắc trách nhiệm hữu hạn chỉ mang tính tương đối; trong một số trường hợp nhất định, pháp luật vẫn quy định trách nhiệm của chủ doanh nghiệp hoặc thành viên với các khoản nợ của doanh nghiệp.

4. Khi phát sinh nợ của doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp có thể làm gì?

Khi phát sinh nợ, chủ doanh nghiệp cần chủ động thực hiện các hành động phù hợp để thu hồi nợ. Trước hết, doanh nghiệp nên trao đổi và thương lượng với bên nợ thông qua công văn yêu cầu thanh toán, nhằm làm rõ nghĩa vụ trả nợ, thống nhất kế hoạch thanh toán và đánh giá khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên nợ cũng như tình trạng của tài sản bảo đảm (nếu có).

Nếu quá trình thương lượng không đạt kết quả, doanh nghiệp có thể khởi kiện bên nợ tại cơ quan giải quyết tranh chấp có thẩm quyền (tòa án hoặc trọng tài thương mại), chuẩn bị hồ sơ và tham gia quá trình tố tụng để giải quyết tranh chấp.

Sau khi có bản án, quyết định hoặc phán quyết có hiệu lực pháp luật, doanh nghiệp có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tiến hành xác minh điều kiện thi hành án, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc xử lý tài sản bảo đảm để buộc bên nợ thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ.

Trong suốt quá trình thu hồi nợ, luật sư đóng vai trò quan trọng trong việc tư vấn chiến lược thu hồi nợ, hỗ trợ doanh nghiệp làm việc với cơ quan giải quyết tranh chấp và cơ quan thi hành án. Để tăng khả năng thu hồi nợ thành công, doanh nghiệp nên lưu giữ đầy đủ hợp đồng có liên quan, hồ sơ, chứng từ thanh toán,… và chủ động làm việc sớm với luật sư để lựa chọn hướng xử lý hiệu quả, hợp pháp.

5. Lời khuyên thực tiễn từ luật sư

Đối với chủ doanh nghiệp, việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp đóng vai trò quan trọng trong việc giới hạn phạm vi trách nhiệm với các rủi ro pháp lý phát sinh trong hoạt động kinh doanh. Chủ doanh nghiệp cần lựa chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp; đồng thời quản lý chặt chẽ, minh bạch hoạt động tài chính, tách bạch rõ ràng giữa tài sản cá nhân và tài sản công ty, tránh những hành vi có thể dẫn đến việc phải chịu trách nhiệm cá nhân.

Đối với đối tác kinh doanh, cần thẩm định kỹ lưỡng tình trạng pháp lý của doanh nghiệp, năng lực tài chính và thẩm quyền của người đại diện khi ký kết hợp đồng, nhằm hạn chế rủi ro phát sinh tranh chấp hoặc mất khả năng thu hồi nợ. Việc tham vấn ý kiến luật sư trước khi giao kết hợp đồng là bước quan trọng để đảm bảo tính pháp lý, an toàn và hiệu quả cho giao dịch.

Trên đây là bài viết “Chủ doanh nghiệp có phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp không?” mà TNTP gửi đến bạn đọc. Trường hợp có thông tin cần trao đổi, vui lòng liên hệ với TNTP để được giải đáp.

Trân trọng.

 

Công ty Luật TNHH Quốc Tế TNTP và Các Cộng Sự

  • Văn phòng tại Hồ Chí Minh:
    Phòng 1901, Tầng 19 Tòa nhà Saigon Trade Center, 37 Tôn Đức Thắng, Phường Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Văn phòng tại Hà Nội:
    Số 2, Ngõ 308 Tây Sơn, phường Đống Đa, Hà Nội
  • Điện thoại:

  • Email: ha.nguyen@tntplaw.com

Bản quyền thuộc về: Công ty Luật TNHH Quốc Tế TNTP và Các Cộng Sự