Án lệ số 09/2016/AL về xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường và việc trả lãi trên số tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại
Án lệ số 09/2016/AL là một án lệ được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam thông qua ngày 17/10/2016 (“Án lệ 09”). Án lệ này tập trung vào vấn đề xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường và việc trả lãi đối với số tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại. Án lệ có hiệu lực từ ngày 01/12/2016, nhằm làm rõ cách thức tính lãi suất trong các vụ kiện tranh chấp giao dịch dân sự và thương mại, giúp thống nhất cách áp dụng pháp luật về lãi suất chậm thanh toán giữa các Tòa án.
1. Nội dung vụ án lệ số 09/2016/AL về xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình
Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/7/2007, đơn đề nghị thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 10/10/2007, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trình bày của đại diện nguyên đơn – Công ty cổ phần thép Việt Ý (sau đây gọi tắt là Công ty thép Việt Ý) thì:
- Liên quan đến Hợp đồng kinh tế số 03/2006-HĐKT:
Ngày 03/10/2006, Công ty thép Việt Ý ký Hợp đồng kinh tế số 03/2006-HĐKT với Công ty cổ phần kim khí Hưng Yên (sau đây gọi tắt là Công ty kim khí Hưng Yên). Theo Hợp đồng này, Công ty thép Việt Ý (bên A) mua hàng hóa là phôi thép đúc liên tục CTS-5SP/PS hàng rời của Công ty kim khí Hưng Yên (bên B) với số lượng 3.000 tấn +/- 5%, đơn giá 6.750.000 đồng/tấn; thời gian giao hàng từ 25 đến 31/10/2006; tổng giá trị hợp đồng là 20.250.000.000 đồng +/-5%.
Để thực hiện Hợp đồng, Công ty thép Việt Ý đã chuyển toàn bộ số tiền 20.250.000.000 đồng cho Công ty kim khí Hưng Yên, tuy nhiên, Công ty kim khí Hưng Yên giao thiếu 7,180 tấn tương ứng với số tiền 48.465.000 đồng cho Công ty thép Việt Ý.
- Liên quan đến Hợp đồng kinh tế số 05/2006-HĐKT:
Ngày 20/12/2006, hai bên ký tiếp Hợp đồng số 05/2006-HĐKT. Theo hợp đồng này, Công ty thép Việt Ý mua 5.000 tấn phôi thép (tiêu chuẩn và chất lượng giống như Hợp đồng số 03). Tổng giá trị hợp đồng là 36.450.000.000đồng +/- 5%; thời gian giao hàng từ ngày 18/01/2007 đến ngày 30/01/2007; Công ty thép Việt Ý sẽ ứng trước 500.000.000 đồng cho Công ty kim khí Hưng Yên ngay sau khi ký hợp đồng; số tiền còn lại sẽ thanh toán theo hai đợt sau khi Công ty thép Việt Ý nhận hàng. Hợp đồng còn quy định nghĩa vụ của Công ty kim khí Hưng Yên phải chịu phạt 2% giá trị hợp đồng nếu không giao hàng đúng chủng loại hoặc không giao hàng. Theo đại diện của Công ty thép Việt Ý thì ngày 21/12/2006, Công ty thép Việt Ý đã chuyển cho Công ty kim khí Hưng Yên 500.000.000 đồng tiền ứng trước, nhưng hợp đồng này Công ty kim khí Hưng Yên không thực hiện mà không có lý do.
- Liên quan đến Hợp đồng kinh tế số 06/2006:
Cùng ngày 20/12/2006, Công ty thép Việt Ý cũng đã ký kết Hợp đồng số 06/2006 với Công ty kim khí Hưng Yên để mua của Công ty kim khí Hưng Yên 3.000 tấn phôi thép. Tổng giá trị hợp đồng là 21.600.000.000 đồng; thời gian giao hàng từ ngàv 05/01/2007 đến ngày 15/01/2007.
Ngày 22/12/2006, Công ty thép Việt Ý đã chuyển cho Công ty kim khí Hưng Yên đủ 21.600.000.000 đồng, nhưng Công ty kim khí Hưng Yên giao thiếu 7,640 tấn tương đương số tiền là 55.008.000 đồng cho Công ty thép Việt Ý.
- Liên quan đến Hợp đồng kinh tế số 01/2017:
Ngày 01/02/2007, Công ty thép Việt Ý ký kết Hợp đồng số 01/2007 với Công ty kim khí Hưng Yên để mua 5.000 tấn phôi thép của Công ty kim khí Hưng Yên. Tổng giá trị hợp đồng là 39.000.000.000 đồng +/- 5%. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty thép Việt Ý đã chuyển cho Công ty kim khí Hưng Yên 37.710.000.000 đồng và Công ty kim khí Hưng Yên đã chuyển cho Công ty thép Việt Ý 3.906,390 tấn phôi thép, thành tiền là 30.469.842.000 đồng. Số phôi thép Công ty kim khí Hưng Yên chưa trả cho Công ty thép Việt Ý là 928,25538 tấn, tương đương số tiền là 7.240.158.000 đồng.
-
- Công ty thép Việt Ý đã nhiều lần gửi công văn đề nghị Công ty kim khí Hưng Yên thực hiện hợp đồng nhưng Công ty kim khí Hưng Yên vẫn không thực hiện, buộc Công ty thép Việt Ý phải mua phôi thép của nhà sản xuất khác để đảm bảo cho việc sản xuất và kinh doanh của Công ty.
- Do Công ty kim khí Hưng Yên vi phạm các hợp đồng hai bên đã ký kết nên Công ty thép Việt Ý đã khởi kiện yêu cầu Công ty kim khí Hưng Yên có trách nhiệm thanh toán và bồi thường mọi thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ giao hàng trong các Hợp đồng số 03/2006, 05/2006, 06/2006, 01/2007 tại thời điểm khởi kiện là 12.874.298.683 đồng, trong đó tiền hàng tương ứng với 1,777.020 kg phôi thép = 11.181.662.503 đồng, tiền phạt vi phạm 1.316.490.480 đồng, tiền lãi quá hạn 376.145.700 đồng.
- Vụ án đã trải qua 03 lần xét xử sơ thẩm và 03 lần xét xử phúc thẩm.
- Ngày 25/7/2010, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh có Công văn số 110/2010/CV-TA đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét lại bản án phúc thẩm theo thủ tục giám đốc thẩm.
- Tại Quyết định kháng nghị số 17/2012/KDTM-KN ngày 25/6/2012, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm theo hướng hủy Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 63/KDTM-PT ngày 05/4/2010 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội; giao hồ sơ vụ án cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
2. Một số nhận định của Tòa án liên quan đến vụ việc lãi suất nợ quá hạn trên thị trường
Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, việc xác định lãi suất nợ quá hạn, phạm vi phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại là những nội dung thường xuyên phát sinh vướng mắc. Vụ tranh chấp giữa Công ty kim khí Hưng Yên và Công ty thép Việt Ý là một ví dụ điển hình, qua đó thể hiện rõ quan điểm của Tòa án về cách áp dụng Luật Thương mại 2005 đối với từng loại nghĩa vụ tài chính phát sinh từ hành vi vi phạm hợp đồng.
2.1 Căn cứ khởi kiện và trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ giao hàng
Do không thực hiện đúng nghĩa vụ giao hàng theo hợp đồng đã ký kết, Công ty kim khí Hưng Yên giao thiếu hàng cho Công ty thép Việt Ý. Trên cơ sở đó, Công ty thép Việt Ý khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bên vi phạm phải:
-
Hoàn trả số tiền hàng đã nhận tương ứng với phần hàng không giao;
-
Thanh toán tiền lãi do chậm hoàn trả;
-
Chịu phạt vi phạm hợp đồng;
-
Bồi thường thiệt hại phát sinh do phải mua hàng thay thế với giá cao hơn.
Các yêu cầu này được Tòa án xác định là có căn cứ pháp lý, phù hợp với các quy định tại Điều 34, khoản 3 Điều 297 và các Điều 300, 301, 302, 306, 307 Luật Thương mại 2005.
2.2 Sai sót trong việc xác định lãi suất chậm thanh toán đối với tiền ứng trước
Đối với khoản tiền ứng trước mà Công ty thép Việt Ý đã thanh toán nhưng không nhận được hàng từ 04 hợp đồng kinh tế, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng số tiền và buộc Công ty kim khí Hưng Yên phải hoàn trả là phù hợp.
Tuy nhiên, sai sót phát sinh ở khâu tính lãi chậm thanh toán. Mặc dù viện dẫn Điều 306 Luật Thương mại 2005, Tòa án cấp sơ thẩm lại áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm xét xử sơ thẩm (10,5%/năm), thay vì lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường.
Theo đúng quy định pháp luật, trong trường hợp này, Tòa án cần xác định mức lãi suất quá hạn trung bình của ít nhất ba ngân hàng thương mại tại địa phương (ví dụ: Agribank, Vietcombank, VietinBank…) tại thời điểm thanh toán để làm căn cứ tính lãi. Việc áp dụng lãi suất cơ bản là không phù hợp với Điều 306 Luật Thương mại 2005.
2.3 Phạt vi phạm hợp đồng và giới hạn áp dụng lãi
Về phạt vi phạm hợp đồng, hai bên đã có thỏa thuận rõ ràng: bên vi phạm nghĩa vụ giao hàng phải chịu phạt 2% giá trị đơn hàng đã được xác nhận. Do Công ty kim khí Hưng Yên không giao đủ hàng, việc Tòa án chấp nhận yêu cầu phạt vi phạm của Công ty thép Việt Ý là có căn cứ, phù hợp với Điều 300 và Điều 301 Luật Thương mại 2005.
Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm lại tính thêm tiền lãi trên khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng, điều này là không đúng quy định pháp luật. Pháp luật thương mại không cho phép áp dụng lãi đối với khoản tiền phạt vi phạm, bởi đây không phải là nghĩa vụ thanh toán tiền hàng hay tiền hoàn trả phát sinh từ giao dịch mua bán.
2.4 Bồi thường thiệt hại và yêu cầu chứng minh thiệt hại thực tế
Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại, Công ty thép Việt Ý cho rằng do Công ty kim khí Hưng Yên không giao đủ hàng, họ buộc phải mua phôi thép từ nhà cung cấp khác với giá cao hơn để bảo đảm hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào các hợp đồng mua phôi thép với bên thứ ba mà chưa làm rõ mối quan hệ nhân quả giữa việc mua hàng thay thế và hành vi vi phạm hợp đồng của Công ty kim khí Hưng Yên. Cụ thể, Tòa án chưa xác minh:
-
Việc mua hàng thay thế có thực sự nhằm bù đắp lượng hàng thiếu hay không;
-
Việc mua này có phục vụ kế hoạch sản xuất, đơn hàng đã cam kết trước đó hay không.
Theo quy định tại Điều 302 Luật Thương mại 2005, bên yêu cầu bồi thường phải chứng minh thiệt hại thực tế và trực tiếp. Do đó, Tòa án cần yêu cầu Công ty thép Việt Ý cung cấp thêm các chứng cứ như: kế hoạch sản xuất, đơn đặt hàng của khách hàng, tài liệu chứng minh sự cần thiết của việc mua hàng thay thế… trước khi buộc bên vi phạm bồi thường.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tính lãi trên khoản tiền bồi thường thiệt hại, điều này cũng không phù hợp với Điều 302 Luật Thương mại 2005.
3. Bình luận án lệ số 09/2016/AL về xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường và việc trả lãi trên số tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại
Nội dung án lệ là các phần [1]; [2]; [3] tại phần nhận định nêu trên. Nội dung án lệ xác định rằng khi bên có nghĩa vụ chậm thanh toán trong giao dịch thương mại, nếu không có thỏa thuận khác thì phải trả lãi theo lãi suất nợ quá hạn trung bình của ít nhất ba ngân hàng tại địa phương nơi xét xử. Đồng thời, bên có nghĩa vụ chậm thanh toán không phải trả lãi đối với khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng hoặc bồi thường thiệt hại.
Án lệ 09 có ý nghĩa lớn trong thực tiễn xét xử thương mại tại Việt Nam bởi:
- Án lệ 09 có vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn và thống nhất cách xác định mức lãi suất nợ quá hạn trong các vụ tranh chấp thương mại, tránh việc áp dụng mức lãi suất không phù hợp hoặc gây tranh cãi. Việc sử dụng mức lãi suất nợ quá hạn trung bình của ba ngân hàng phản ánh sát thực tế thị trường tại thời điểm thanh toán, giúp đảm bảo quyền lợi công bằng giữa các bên trong hợp đồng.
- Ngoài ra, án lệ cũng làm rõ nguyên tắc không trả lãi trên tiền phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại, giữ sự nhất quán với quy định Luật Thương mại 2005, tránh việc tăng thêm gánh nặng tài chính ngoài phạm vi hợp đồng đối với bên vi phạm.
- Án lệ này tăng tính dự đoán pháp lý, hỗ trợ doanh nghiệp trong việc đánh giá rủi ro tài chính khi vi phạm hoặc bị vi phạm hợp đồng.
Tuy vậy, vẫn còn một số khó khăn khi áp dụng Án lệ 09 như sau:
- Án lệ yêu cầu lấy “mức lãi suất nợ quá hạn trung bình của ít nhất ba ngân hàng tại địa phương” nhưng không hướng dẫn rõ ngân hàng nào, khoản vay nào, kỳ hạn nào – dẫn tới việc áp dụng còn khác nhau giữa các tòa án.
- Thời điểm tính lãi suất được hiểu là “tại thời điểm thanh toán (xét xử sơ thẩm)”, nhưng án lệ không quy định rõ nếu quá trình xét xử kéo dài, có thay đổi ngân hàng, có biến động thị trường thì có cập nhật lãi suất không, điều này dẫn tới nhiều tranh cãi trong việc áp dụng thực tiễn.
- Một trong những khó khăn đáng kể trong quá trình áp dụng quy định về lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường là việc thiếu nguồn thông tin công khai, thống nhất từ các ngân hàng thương mại. Hiện nay, đa số tổ chức tín dụng không công bố công khai mức lãi suất nợ quá hạn trung bình hoặc nếu có thì mỗi ngân hàng áp dụng cách tính và khung thời gian khác nhau, dẫn đến sự chênh lệch đáng kể giữa các nguồn dữ liệu. Điều này khiến việc xác định mức lãi suất nợ quá hạn trung bình để làm căn cứ giải quyết tranh chấp hoặc tính toán nghĩa vụ tài chính trở nên khó khăn, thiếu nhất quán.
Án lệ 09 là một dấu mốc quan trọng trong lĩnh vực xét xử tranh chấp thương mại tại Việt Nam, đặc biệt về vấn đề lãi suất chậm thanh toán. Án lệ 09 đã làm rõ: lãi suất chậm thanh toán được tính theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình của ít nhất ba ngân hàng tại địa phương; khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng và khoản bồi thường thiệt hại không phát sinh lãi chậm trả. Dẫu còn một số điểm chưa rõ ràng và cần hoàn thiện (như nguồn dữ liệu lãi suất, thời điểm tính lãi, phạm vi áp dụng chính xác), Án lệ 09 vẫn là một nguồn pháp luật để tham chiếu giúp tăng tính thống nhất trong xét xử các tranh chấp thương mại.